Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Đề đạo nhân vân thủy cư kì thập tứ



Tác giả: Lê Thánh Tông 黎聖宗
題道人雲水居其十四
乾坤有地載閒人
野客風情迥不群
隠隠翠微藏老屋
暮天冉冉入簷雲

Càn khôn hữu địa tải nhàn nhân
Dã khách phong tình quýnh bất quần 
Ẩn ẩn thúy vi tàng lão ốc 
Mộ thiên nhiễm nhiễm nhập liêm vân

Dịch nghĩa: 
Đề nơi ở chốn mây nước của đạo sĩ (bài 14)  
Đất trời có chỗ chở người nhàn hạ, 
Hứng thú đồng quê khác hẳn mọi người; 
Nhà cũ ẩn giữa non xanh mờ ảo, 
Bóng chiều buông dần, mây chui vào rèm.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

I 
Đất trời có chốn chở người nhàn, 
Riêng thú đồng quê khác thế gian; 
Nhà cũ ẩn trong chùm lá biếc, 
Ráng soi rèm cửa lúc chiều buông. 

II 
Đất trời rộng chứa người nhàn, 
Đồng quê thú khác thế gian nhiều điều; 
Non xanh thấp thoáng mái nghèo, 
Mây vờn rèm cửa, ánh chiều dần buông.






Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Đề đạo nhân vân thủy cư kì thập nhất



Tác giả: Lê Thánh Tông 黎聖宗
題道人雲水居其十一
數間水閣枕蓮湖
人得神全百事無
有客休休千載後
閒情不欲與君殊

Sổ gian thủy các chẩm liên hồ
Nhân đắc thần toàn bách sự vô
Hữu khách hưu hưu thiên tải hậu
Nhàn tình bất dục dữ quân thù

Dịch nghĩa:  
Đề nơi ở chốn mây nước của đạo sĩ (bài 11)  
Mấy gian nhà sàn gối lên hồ sen, 
Con người tinh thần toàn vẹn, ấy là lúc trăm sự đều không vướng víu; 
Ngàn năm sau, nếu có người khách lui về nghỉ, 
Thì thú thanh nhàn chắc cũng chẳng muốn khác.

Dịch thơ: 

I 
Nhà sàn mấy nếp gối hồ sen, 
Trăm việc không, thần được vẹn toàn; 
Mai hậu nghìn năm ai đó tới, 
Chắc không khác Bác thú thanh nhàn. 
                                                        Mai Hải 

II 
Nhà sàn nằm gối hồ sen, 
Quên đi mọi việc, tinh thần lâng lâng;
Ngàn sau ai đó về thăm, 
Chắc không khác thú thanh nhàn ngàn xưa. 
                                                          Đỗ Quang Liên




Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Đề đạo nhân vân thủy cư kì thập tam



Tác giả: Lê Thánh Tông 黎聖宗
題道人雲水居其十三
溪水嶇崎小徑斜
桃花流水野人家
四旁無數青山好
隠隠危楼断碧霞

Khê thủy khu khi tiểu kính tà 
Đào hoa lưu thủy dã nhân gia 
Tứ bàng vô số thanh sơn hảo 
Ẩn ẩn nguy lâu đoạn bích hà

Dịch nghĩa: Đề nơi ở chốn mây nước của đạo sĩ (bài 13)  
Dòng suối quanh co, con đường mòn chênh vênh, 
Chỗ có hoa đào mọc bên dòng suối là nhà người thôn dã; 
Bốn bề vô số núi xanh tươi đẹp, 
Thấp thoáng bóng lầu cao rạch vào làn mây xanh.

Dịch thơ:

I 
Lối nhỏ chênh chênh, dòng suối lượn, 
Chốn quê đào thắm, nước trong veo; 
Bốn bề vô số non xanh đẹp, 
Thấp thoáng lầu cao rạch ráng chiều. 
                                            Đỗ Quang Liên 

II 
Lối vòng, suối nhỏ chênh chênh, 
Người nhà thôn dã rung rinh hoa đào; 
Non xanh bốn phía đẹp sao, 
Lầu cao thấp thoáng lẫn vào mây xanh. 
                                                          Mai Hải





Chú thích: 
Hoa đào bên suối: chỉ nơi ở của người ẩn dật, lánh đời hoặc nơi tiên cảnh xuất xứ từ bài Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm.




Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Đề đạo nhân vân thủy cư kì thập nhị



Tác giả: Lê Thánh Tông
黎聖宗題道人雲水居其十二
笛弄西風掉擱沙
漠村隠約两三家
冷看富貴浮雲外
笑傲烟霞度歲華


Địch lộng tây phong trạo các sa 
Mạc thôn ẩn ước lưỡng tam gia 
Lãnh khan phú quý phù vân ngoại 
Tiếu ngạo yên hà độ tuế hoa

Dịch nghĩa: Đề nơi ở chốn mây nước của đạo sĩ (bài 12) 
Tiếng sáo vút trong gió Tây, mái chèo gác trên bãi cát, 
Vài ba nóc nhà thấp thoáng ở trong xóm bãi; 
Lạnh lùng coi phú quý như đám mây nổi, 
Cười ngạo với khói mây sống vui qua năm tháng. 

Dịch thơ: 

I
Gió Tây vẳng sáo, chèo ngơi bãi, 
Thấp thoáng ven sông mấy nếp nhà 
Phú quý nhẹ xem mây nổi đó, 
Khói mây cười ngạo tháng ngày qua. 
                                                    Mai Hải 


II 
Chèo gác bãi, sáo ngân nga, 
Xóm chài thấp thoáng dăm nhà ven sông; 
Giàu sang mây nổi, lạnh lùng, 
Ngạo cười khói sóng, tháng năm thanh nhàn. 
                                                            Đỗ Quang Liên 






Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

410. Đề đạo nhân vân thủy cư kì thập



Tác giả: Lê Thánh Tông 黎聖宗
題道人雲水居其十
扁舟遁跡羨冥鴻
渺渺垂絲靣細風
笑奡不千江色暮
白雲忽在酒杯中

Biên chu độn tích tiển minh hồng 
Diểu diểu thùy ty diện tế phong 
Tiếu ngạo bất can giang sắc mộ
Bạch vân hốt tại tửu bôi trung

Dịch nghĩa:  
Đề nơi ở chốn mây nước của đạo sĩ (bài 10) 
Chiếc thuyền con mất bóng, cánh chim hồng bay vút, 
Buông câu giữa chốn sông nước mênh mang, gió nhẹ vờn lên mặt; 
Cười ngạo chẳng để ý đến sắc chiều trên sông, 
Áng mây trắng chợt soi trong chén rượu.

Dịch thơ: 

I 
Hút bóng thuyền nan, vút bóng hồng, 
Buông câu nơi sóng gió muôn trùng; 
Ngạo cười chẳng kể chiều đang xuống, 
Mây trắng chợt soi chén rượu trong. 
                                                      Mai Hải 

II 
Hút thuyền con, vút bóng hồng, 
Gió vờn mặt, nước mênh mông thả mồi; 
Kể chi chiều xuống ngạo cười,   
Chợt làn mây trắng sà soi chén nồng. 
                                               Đỗ Quang Liên