Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

NHỮNG ĐIỀU CẦN PHÊ PHÁN

         Ở HAI QUYỂN SÁCH VỀ PHONG THỦY VIỆT NAM
                                     HOÀNG TUẤN PHỔ
Thành nhà Hồ, cổng phía Nam gắn với câu chuyện 
đường đá Hoa Nhai
Thị trường sách nước ta những năm gần đây bày bán ê hề những ấn phẩm một thời bị xếp vào loại duy tâm, thần bí, mê tín, dị đoan: tử vi, tướng số, bói toán, xem ngày tốt xấu, phong thủy...Cũng có một ít “hàng thật”, đa số “hàng rởm”. 

Ví dụ sách Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông của Mộng Bình Sơn (2) hay sách Nghiên cứu phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học của Ngô Nguyên Phi (1)...
Sách Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông (280 trang, khổ 13x29) thuộc dạng biên khảo, không đề cập vấn đề phong tục và thổ ngơi của một địa phương mà lại xoay quanh chuyện phong thủy của hai thầy địa lý nổi tiếng trong dân gian: Cao Biền (người Tàu) và Tả Ao (người Việt).
Mộng Bình Sơn viết: “Cao Biền là một nhân vật rất giỏi về khoa địa lý”, “đây không phải là truyền thuyết mà là một dữ kiện lịch sử có chi trong sử liệu” (2.tr27). Sự thật, Cao Biền sinh ra trong gia đình nhiều đời làm tướng. Bản thân Cao Biền tinh thông võ nghệ, ham đọc sách. Biền xuất thân coi giữ cấm binh, có công được phong làm Phòng ngự sứ ở Trần Châu. Năm 864, quân Nam Chiếu đánh cướp Giao Châu (Việt Nam), Cao Biền đang giữ chức Kiêu vệ tướng quân được vua Đường Ý tông sai sang Giao Châu dẹp giặc. Hoàn toàn không phải vì ông ta giỏi phong thủy nên vua Đường Trung tông sai sang Việt Nam để tìm long huyệt lớn kết phát tốt thì yểm phá và lập bản tấu trình về Tàu cho vua Đường biết, như Mộng Bình Sơn viết. Cao Biền giết hàng vạn dân Nam Chiếu, thu lại Giao Châu, được vua Đường phong làm Tiết độ sứ Giao Châu. Năm 875, vua Đường gia phong Cao Biền chức Kiểm hiệu Thượng thư hữu bộc xạ, gọi về Trung Quốc, sai làm Tiết độ sứ nơi khác. Trong 13 năm ở Việt Nam, Cao Biền chuyên lo chính sự, đắp thành Đại La, mở mang giao thông, đường thủy, giữ cho dân quận một cõi được yên. Chính sử Trung Quốc cũng như Việt Nam không có dòng nào viết về tài phong thủy của Cao Biền và nhiệm vụ nghiên cứu phong thủy mà vua Đường giao cho. Mộng Bình Sơn đã lượm lặt những mẩu chuyện dân gian về Cao Biền rồi lại mập mờ nói là “dữ kiện lịch sử có ghi trong sử liệu” để đánh lừa người đọc không có đủ điều kiện khảo cứu sử sách. Mộng Bình Sơn không hiểu hay cố tình không hiểu việc dân gian nước ta hư cấu một Cao Biền có tài phong thủy với dụng ý tố cáo âm mưu thâm độc của phong kiến xâm lược phương Bắc, đề cao khí thiêng sông núi Việt Nam đã làm cho Cao Biền phải chịu thất bại thảm hại. Điều này có thể thấy rõ trong hai quyển sách cổ: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái có chép mấy mẩu chuyện về Cao Biền nhưng chỉ chứng tỏ ông là một pháp sư phù thủy, không trừ thủ đoạn tàn bạo nào, để yểm trấn thần thiêng nước ta, kết quả, Biền bị thần núi Tản Viên nhổ nước bọt mà bỏ đi !
Mộng Bình Sơn trong Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông, đặc biệt đề cao tập “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự”, xem là công trình lớn của Cao Biền khảo cứu về phong thủy Việt Nam. Nhưng chúng ta có thể tin chắc cuốn sách nói trên của Cao Biền do người đời sau biên soạn, mượn danh Cao Biền để lòe bịp thiên hạ. Chứng cứ là những địa danh, tên những cuộc đất phong thủy trong cuốn sách, thời Cao Biền chưa hề có. Ví dụ: Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh,...
-Vùng đất Thanh Oai (Hà Tây) đời Đường là Đỗ Động thuộc huyện Long Biên. Năm 966, sứ quân Đỗ Cảnh Thạc chiếm cứ đất này. Đời Lý, Thanh Oai là tên một hương thuộc châu Quốc Oai. Thời Lê Thánh tông, Thanh Oai là huyện thuộc phủ Ứng Hòa...
-Tên Chương Đức và đơn vị huyện mang tên Chương Đức từ đời Trần trở về trước chưa có. Đời Lê Thánh tông mới đặt huyện Chương Đức, lệ vào phủ Ứng Hòa, nay là huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
-Vùng đất Sơn Minh xưa là đất Đường Lâm, thuộc châu Phong cũ. Tên Sơn Minh xuất hiện đời Lý. Nhà Minh đổi làm Sơn Định. Đời Lê Thánh tông lấy lại tên Sơn Minh thuộc phủ Ứng Hòa, sau là huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây,...
Mộng Bình Sơn muốn chứng minh sách Tấu thư địa lý cảo tự chính thực của Cao Biền lại bịa ra chuyện Thượng thư Hoàng Phúc trong đội quân xâm lược nhà Minh, “rất giỏi về địa lý” mang theo quyển Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự sang Việt Nam để xét duyệt lại và tiếp tục hủy phá những cuộc đất có long huyệt lớn, nhằm mục đích “tận diệt phong thổ Việt Nam”, và không cho phát sinh ra những bậc vương tướng, những anh hùng yêu nước chống lại chính sách đô hộ của Trung Hoa (2.tr.54). Hẳn Mộng Bình Sơn cũng biết rằng Thượng thư Hoàng Phúc phải “trói mình nộp thân” (Bình Ngô đại cáo) cho nghĩa quân Lam Sơn, nếu không nhờ chính sách khoan dung của Lê Thái tổ, liệu có thoát khỏi tội chết bỏ xác nơi đất Việt ?
Về nhân vật Tả Ao, Mộng Bình Sơn viết: “Cuộc đời hoạt động của cụ Tả Ao về hai ngành y lý và địa lý cũng không thấy một tài liệu nào lưu lại, chỉ thấy những mẩu chuyện vui cười về cụ Tả Ao đi tầm long điểm huyệt trong dân gian do người đời sau sáng trước tác (!) không có giá trị khảo cứu (!)...” (2.tr.65). Thế mà, Mộng Bình Sơn, không rõ lại có tài liệu nào để căn cứ và đưa ra một bản “Thân thế và tiểu sử của cụ Tả Ao” và khẳng định “thân thế và tiểu sử của cụ Tả Ao lưu lại như vậy” !? (2.tr 56-62). Sự thật, cái gọi là “thân thế và tiểu sử về cụ Tả Ao” đó chỉ là một truyện kể dân gian trong “kho tàng truyện cổ tích”. Chính Mộng Bình Sơn cũng tự mình mâu thuẫn với mình: ở trang 57, ông khẳng định Thánh địa lý Tả Ao “sinh vào thời vua Lê chúa Trịnh” nhưng đến trang 257, nói về thành nhà Hồ, ông lại viết: “Thành này do cụ Tả Ao Nguyễn Đức Hiên tìm ra, dựa trên một cuộc đất phát vương, cuộc đất đó nằm trên phủ Quảng Xương” ! Thế nhưng Quảng Xương là huyện và cách xa thành nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc đến 60 km!)
Mộng Bình Sơn giới thiệu ba tập sách quý của cụ Tả Ao: Địa lý Tả Ao toàn thư, Địa đạo diễn ca, Dã đàm Tả Ao, cũng không có cơ sở nào để tin chắc do chính cụ Tả Ao Nguyễn Đức Hiên soạn. Ngay cả quyển Địa lý Tả Ao chân truyền (khắc in năm 1919) cũng không thể chắc là “chân truyền”. Nói riêng về Địa đạo diễn ca gồm 120 câu thơ Nôm, người viết trình độ rất kém và không có hơi hướng cổ văn. Cả “ba tập sách quý” ấy thực chất chỉ là loại sách “vỡ lòng” của những người mới theo học nghề phong thủy, do thầy địa lý hạng bét biên soạn. Theo tôi, Tả Ao chỉ là cái tên phiếm chỉ, mượn tên làng Tả Ao, xã Tả Ao (Hà Tĩnh) để chỉ về một ông tổ nghề địa lý của làng Tả Ao. Trước năm 1945, trong nhân dân ta, các cụ vẫn truyền tụng thầy địa lý Tả Ao giỏi phong thủy, cũng như thầy đồ Nghệ “hay chữ dữ đòn”. Thực tế thầy địa lý Tả Ao không có ai là thánh sư, thầy đồ xứ Nghệ cũng chẳng có ai làm đại sư hay thần tổ.
Mộng Bình Sơn soạn sách phong thủy nhưng kiến văn rất lơ mơ về khoa phong thủy. Ông viết: “...Sách địa lý rất hiếm, ngay ở trên đất Trung Hoa là nơi sáng tác ra nó cũng khó tìm” (2, tr.20). Rồi ông đổ tội cho vua chúa Trung Quốc, nào là đốt sách chôn sống học trò (Tần Thủy Hoàng) nào là hoàng tộc giữ độc quyền không cho phổ biến, đó là những tội do Mộng Bình Sơn tưởng tượng. Nên biết, Tần Thủy Hoàng không đốt loại sách bói toán và sách bói toán, tướng số phong thủy không hề hiếm ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, qua các triều đại, nhiều học giả công khai tranh luận về phong thủy và có lúc xã hội đầy rẫy yêu ngôn, loạn thư. Đến đây, chúng ta có thể kết luận: Mộng Bình Sơn và sách Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông không hề có “triết Đông” hay “triết Tây” gì cả. Thậm chí, cả cái mục “Đất nước Việt Nam, vùng địa linh nhân kiệt”, Mộng Bình Sơn cũng chỉ tập hợp một ít tài liệu “hổ lốn”, văn không ra văn, sử không ra sử. Ví dụ Mộng Bình Sơn viết về Thanh Hóa: “Vị trí Thanh Hóa từ đời Lý Trần cho đến nay hình thể không thay đổi mấy” (2, tr.258). Thế là Mộng Bình Sơn không đọc sử, hay có đọc mà không nhớ? Ông đã không hiểu về núi Chí Linh, về Lam Sơn, nhưng cứ viết bừa rằng “Lam Sơn là nơi khởi nghĩa, nhưng ở đất này cũng như ở một Lũng Nhai không có bài phú, bài văn nào của những tác giả đương thời, riêng Chí Linh được hai bài phú, đủ biết Chí Linh quan trọng như thế nào” (2, tr.260) (Tôi không dám viện dẫn dài dòng những tài liệu thơ văn đương thời viết về Lam Sơn và Chí Linh sơn, xin bạn đọc giở lại Hoàng Việt thi văn tuyển sẽ rõ).
Ngô Nguyên Phi với bộ sách Nghiên cứu phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học tỏ ra “uyên bác” hơn Mộng Bình Sơn. Tiếc rằng phần lớn sách, Ngô Nguyên Phi không làm việc “nghiên cứu phong thủy” mà chỉ tập hợp, in ra những tài liệu Dịch học, Thiên văn lịch pháp, Độn giáp, Âm dương ngũ hành, La bàn, Lý khí, là những nội dung từ lâu đã không còn xa lạ đối với bạn đọc Việt Nam.
Đáng chú ý nhất của bộ sách là vấn đề Phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học, cụ thể ở tập II, Ngô Nguyên Phi bàn về “Phong thủy trên đất nước Việt Nam”. Hy vọng đây chính là chỗ người viết sách có ít nhiều đầu tư nghiên cứu và tư duy sáng tạo. Nhưng Ngô Nguyên Phi lại tỏ ra rất hời hợt, non kém, chẳng những ôm đồm, nhầm lẫn về tư liệu mà con đưa ra những suy diễn hết sức chủ quan, nông cạn, những ý kiến kỳ lạ đến kỳ quái !
Ví dụ: về thành nhà Hồ đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu nhưng Ngô Nguyên Phi cứ nhắm mắt viết bừa:
-“Thành tọa lạc ở động Ân Tôn (?) xưa kia là các ấp Hoa Nhai, Tây Nhai, Phương Nhai, Đông Môn”. Xin hỏi: Ân Tôn hay An Tôn ? Xưa kia là thời điểm nào, trước hay sau khi xây thành ? Tây Nhai, Phương Nhai, Hoa Nhai là tên phố, sau khi xây thành mới mở phố xá để phục vụ quý tộc, quan lại, binh lính. Còn địa danh Đông Môn cũng phải đến lúc nhà Hồ sụp đổ mới xuất hiện ấp Đông Môn, rồi làng Đông Môn.
-Những địa danh soạn giả viết lầm (khó đổ lỗi cho nhà in) thì nhiều lắm, như mô tả thành Tây Đô, soạn giả viết: “ Phía hữu thành có quận Hoàng Sách, ven bờ sông Mã chạy đến núi Ân Tôn (?) ở hướng đông. Hai phí tả hữu đều dài vài vạn trượng” (1, tr.586-587). Đọc đi đọc lại vẫn không hiểu ý soạn giả muốn nói gì, tại sao động An Tôn hóa thành động Ân Tôn (chữ Ân Tôn nhắc lại nhiều lần). Hay huyện Vĩnh Lộc (và cả tỉnh Thanh Hóa) làm gì có quận Hoàng Sách ? Lại còn “tả hữu đều dài đến vài vạng trượng” là thế nào ? Tra tìm các sách địa chí, thấy Đại Nam nhất thống chí phần tỉnh Thanh Hóa (biên soạn đời Thành Thái-Duy Tân) chép câu ấy là: “Phía hữu từ tổng Quan Hoàng huyện Cẩm Thủy, theo sông Mã đi sang phía đông, thẳng đến núi An tôn, bao la mấy vạn trượng...”. Phải viết như thế mới đúng !
Nghiên cứu phong thủy thànhTây Đô (thành nhà Hồ), Ngô Nguyên Phi viết: “Kể về địa thế thì có sông Bái ôm phía đông, sông Mã ấp phía tây (?) lại có sông Lương hơi nhỏ chạy từ Ai Lao sang thọc thẳng về hướng thành”. Về núi, “phía ngoài một lớp là Lôi Dương, Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn. Các dãy núi ấy vòng bọc bao quanh như triều phục” ! (1,tr.587)
Thế là “nhà nghiên cứu phong thủy” không cho sông Lương gặp sông Mã ở ngã ba Giàng, bắt phải “thọc thẳng về hướng thành” ! Ông cũng thay quyền tạo hóa, bắt tất cả các thế núi, hướng núi thiên hình vạn trạng ở tận Đông Sơn, Nông Cống, thậm chí ở xa như Ngọc Sơn-Tĩnh Gia giáp Nghệ An, cách Vĩnh Lộc tới cả trăm cây số đều phải quay đầu triều phục thành nhà Hồ ! Không thể tin nổi, Ngô Nguyên Phi còn liều mạng viết: “Đó là Tây Đô, sử gọi là thành nhà Hồ, dựa trên một cuộc đất phát vương, cuộc đất đó nằm trên phủ Quảng Xương” !?. Trong thực tế, Quảng Xương chưa bao giờ là đơn vị “phủ” và nếu “cuộc đất phát vương” “nằm trên phủ Quảng Xương” thì tại sao thành nhà Hồ lại “chạy về” huyện Vĩnh Lộc-nơi cách xa địa danh Quảng Xương tới 60 km ?
Ngô Nguyên Phi viết tiếp về “Cung sơn” và “Tiễn lộ”:
Khi thành xây xong, Trần Khát Chân là “người tinh thông địa lý” không muốn cho đế nghiệp họ Hồ lâu dài nên bày ra cách đắp một con đường ngay trước Cung Sơn chạy thẳng đến trước Tây Đô như một mũi tên gọi là đường Tiễn lộ. Ngô Nguyên Phi phân tích:
-“Đứng về mặt phong thủy học nhận xét thì tiệc làm “tiễn lộ” đó rất tệ hại”.
-“Trước nhất, mũi tên ấy thọc thẳng ngay điện vua. Mũi tên lại đã được giăng sẵn rồi, chỉ cần bay ra thôi. Ý nghĩa tượng trưng cho sự gấp gáp và nguy hiểm”.
-“Trong phong thủy học, một cuộc đất kết phải có tiền Án, hậu Chẩm (trước án, sau gối): có Án sơn trước mặt thì phía sau phải có Chẩm sơn mới đúng. Chẩm sơn đã có rồi thì cần gì phải tiễn lộ nữa?” (1, tr.585-586).
Trước hết, cần phải nhấn mạnh chuyện Trần Khát Chân đắp đường Hoa Nhai (tiễn lộ) chỉ là truyền thuyết dân gian. Thành nhà Hồ là một đồ án hoành chỉnh do Thái sử Đỗ Tỉnh, một kiến trúc sư có tài phục trách và trong chỉnh thể ấy không thể không có đường hố Hoa Nhai. Đường Hoa Nhai là một trục dài thẳng, đoạn thứ nhất từ điện Hoàng Nguyên (điện Kính Thiên không phải nơi vua ở) đến cửa Đoan Môn; đoạn thứ hai từ cửa Đoan Môn đến thẳng đàn Nam Giao ở núi Đốn Sơn (tên núi Cung Sơn do thầy địa lý đặt). Hai bên đường này vốn là phố xá và có nhiều đường ngõ hẹp cắt ngang. Vì vậy, nếu đường Hoa Nhai nếu là cái tên (Tiễn Lộ) thì nó đã bị chặt đứt từng khúc. Mũi tên ấy không thể bắn thẳng đến tận điện vua ở (điện vua Hồ ở phía sau điện Kính Thiên). Khoa phong thủy từ đời Hán-Đường đã thịnh hành phép yểm trừ “quỷ môn”, “tử huyệt”. Giả sử Đốn Sơn là hình cây cung, đường Hoa Nhai là mũi tên, thì Đỗ Tỉnh với chứ quan Thái sử lệnh (coi thiên văn địa lý), khi dùng đường Hoa Nhai làm đường phố, xây đàn Nam Giao ở Đốn Sơn (tình cờ hoặc hữu ý) đã dùng phép trấn trị (đàn Nam Giao thờ trời đất) khiến cung tên hoàn toàn mất tác dụng. Mặt khác, chúng ta cũng nên nhớ rằng nhà Thượng tướng Trần Khát Chân ở trên núi Đốn Sơn (tức Cung Sơn) đáng nhẽ phải vững như bàn thạch, thế mà nhà Hồ chưa đổ, ông đã bị chém rơi đầu tại chính Đốn Sơn !? Tóm lại, chuyện Cung Sơn-Tiễn Lộ là truyền thuyết do dân gian hư cấu, nói lên trí tưởng tượng phong phú của nhân dân ta xưa, nhằm ca ngợi Trần Khát Chân, chê bai Hồ Quý Ly. Câu chuyện mang màu sắc phong thủy, hoàn toàn không phải nhà Hồ đổ do tính quyết định về mặt phong thủy của Tây Đô. Chỉ có thầy địa lý hạng bét mới tin rằng đó là câu chuyện thật, từng xảy ra trong lịch sử, mới vận dụng nó để lòe bịp người dân thường.
Nhìn chung, Mộng Bình Sơn cũng như Ngô Nguyên Phi đều chung một ngòi bút cẩu thả, thiếu trách nhiệm. Hai soạn giả lại có một số trang giống nhau như in, khiến người đọc không khỏi thắc mắc, không rõ ai “cóp” của ai, hay là họ tuy hai mà một, tuy một mà hai ? (Đề nghị bạn đọc xem các trang từ 252 đến 260 của sách Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông và các trang từ 584 đến trang 591 của sách Nghiên cứu phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học. Đặc biệt, những trang sách phụ lục “Bản mệnh tượng đối của cá nhân qua 12 con giáp”, chỉ gây tác dụng xấu, vì đây là vấn đề rất nhạy cảm, khiến con người dễ mất đi niềm tin vào chính bản thân mình, là chỗ dựa để bọn đồng cốt, bói toán nhảm nhí, tán dóc kiếm ăn.
Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ gìn tinh hoa văn hóa dân tộc, cố nhiên phải qua chọn lọc và phê phán. Sách Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông cũng như sách Nghiên cứu phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học (và nhiều sách phong thủy khác) đã núp dưới chiêu bài triết lý, khoa học, bảo tồn văn hóa để đánh lừa người đọc, truyền bá các ngón nghề thần bí, mên tín, cả môn “coi đất” mà từ xưa nhân dân ta đã chế diễu: “Hòn đất mà biết nói năng...” !
H.T.P

(Bài đã đăng trên Tạp chí Văn Hóa dân gian-Viện nghiên cứu văn hóa dân gian-Viện khoa học xã hội Việt Nam-số 4-2007)
Chú thích:
1.Ngô Nguyên Phi, Nghiên cứu phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học. NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
2. Mộng Bình Sơn, Tìm hiểu phong thổ học qua quan niệm triết Đông, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.



Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

NĂM ĐẶT TÊN ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THANH HÓA mốc 1029 hay 1082 ?

HOÀNG TUẤN CÔNG

Đền Đồng Cổ ở Đan Nê-An Định-Thanh Hóa
Nước Việt Nam ta, tỉnh Thanh Hoá là một trong số rất ít tỉnh nhà nước phong kiến đặt cho nhiều tên nhất: Cửu Chân, Ái Châu, Thanh Hoá, Thanh Hoa,  Thanh Hoá…

Về cương vực (địa giới), từ bộ Cửu Chân thời Hùng vương đến Ái Châu nhà Lương, Ái Châu nhà Đường đều chưa thật ổn định. Đến đời nhà Lý, tên Thanh Hoá ra đời, địa giới bắt đầu dần dần đi vào ổn định và thật sự ổn định vào đầu đời Thiệu Trị, trong những năm 1841-1843 cho đến thời thuộc Pháp.
          Thời vua nhà Lý dài 217 năm (1010-1226), triều đình đặt tên Thanh Hoá với tư cách một địa danh hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương từ bao giờ ? Hai bộ sử lớn nước ta được xem là chính sử, quốc sử: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục đều không ghi chép rõ. Vì thế mới thành vấn đề phải trao đổi ý kiến, phải bàn luận.
          Tháng 11/2011, Sở Văn hoá TT Du lịch Thanh Hoá phối hợp với Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học “Thanh Hoá đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương khởi đầu và diễn biến”. Theo bản báo cáo Đề dẫn hội thảo khoa học của ông Nguyễn Văn Tuấn, Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở văn hoá TT và Du lịch Thanh Hoá, trong 17 báo cáo tham luận, có nhiều ý kiến khác nhau căn bản trên những tư liệu tham khảo khác nhau hoặc có giống nhau nhưng không cùng kiến giải.
Đọc tài liệu kỷ yếu Hội thảo của Hội khoa học lịch sử Việt Nam-Sở văn hoá văn hoá TTDL Thanh Hoá (Ấn hành 24-12-2011) chúng ta thấy riêng vấn đề “Tên gọi Thanh Hoá đặt ra từ bao giờ ?” nổi lên hai nhóm tác giả:
Nhóm thứ nhất: NNC Hoàng Tuấn Phổ, PGSTS Đỗ Bang - ThS Trần Văn Quyến (Huế), PGSTS Lâm Bá Nam (Hà Nội) cho rằng tên Thanh Hoá đặt ra năm 1029, đời vua Lý Thái tông (gọi tắt là Nhóm 1029)
Nhóm thứ hai: PGSTS Nguyễn Minh Tường, PGSTS Nguyễn Hải Kế, PGSTS Trịnh Khắc Mạnh, PGSTS Lê Đình Sĩ,v.v…(15 tác giả) nhất trí: tên Thanh Hoá được nói đến từ năm 1082 đời vua Lý Nhân tông ( gọi tắt là Nhóm 1082).
          Căn cứ tài liệu chủ yếu của Nhóm 1029: phần khảo cứu chú giải của Quốc sử quán triều Nguyễn, một công trình công phu nghiêm túc, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, và một số công trình khác: Dư địa chí của Nguyễn Trãi, do GS Hà Văn Tấn chú thích về mục Thanh Hoá, Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng,.v.v…Nhóm 1082 luận cứ trên cơ sở mấy tấm bia đá đời Lý Nhân tông ở Thanh Hoá: Bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, Bia chùa Ngưỡng Sơn Linh Xứng, sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn,v.v…
          Luận điểm của Nhóm 1029 bị Nhóm 1082 (qua nội dung tham luận và tranh luận tại hội thảo) bác bỏ, vì: 1/Khi đưa ra niên đại 1029, Quốc sử quán triều Nguyễn không cho biết căn cứ vào tài liệu nào. 2/ Tại sao từ sau 1029 quốc sử vẫn còn nhắc đến tên Ái Châu mỗi khi xảy ra sự việc quan trọng ? Dường như đã tính trước được sự phản biện này, trong tham luận của Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ đã lần lượt giải thích thoả đáng: 1/Cách làm việc của Quốc sử quán triều Nguyễn rất công phu nghiêm túc, rất đáng tin cậy, theo cách khảo cứu, chú thích thời xưa, có nhiều trường hợp không phải cần dẫn chứng tư liệu. Ngay như GS Hà Văn Tấn, một nhà khoa học nổi tiếng chú thích Dư địa chí của Nguyễn Trãi, mục Thanh Hoá, ghi rõ là “Năm Thiên thành thứ 2 (1029) đổi làm phủ Thanh Hoá” mà có nói theo tài liệu nào đâu ! Nghĩa là nhà khảo cứu xét thấy trong “chú thích” lại phải làm thêm “khảo cứu”, “chú thích” nữa thì không cần thiết. Cách chú thích khoa học nhất là ngắn gọn, rõ ràng, chính xác. Lẽ nào một nhà khoa học đầu ngành lịch sử Việt Nam rất giỏi về thư tịch học, Thạch học, văn bản học như GS Hà Văn Tấn không biết đến cả mấy tấm bia thời Lý ở Thanh Hoá và cuốn sách biên khảo của Hoàng Xuân Hãn về mấy tấm bia này ?
2/ Từ sau 1029, Ái Châu đổi làm Thanh Hoá, một số sự kiện như đánh giặc Đãn Nãi, vẫn dùng địa danh Ái Châu, tên một đơn vị hành chính tương đương quận, huyện vẫn còn dùng cùng với quận Cửu Chân, thuộc phủ Thanh Hóa từ 1029.
Có thể nhận thấy rõ, những cứ liệu làm luận điểm của Nhóm 1082 chỉ được Nhóm 1029 nhắc đến trong tham luận của mình như một loại sự kiện xảy ra được nhắc đến tên Thanh Hoá, không phải là sự kiện đặt tên Thanh Hoá bắt đầu từ đó. Ví dụ:
Bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, tác giả Chu Văn Thường viết về Lý Thường Kiệt: “Chí Nhâm Tuất chi tuế, hoàng đế đặc gia Thanh Hoá nhất quân, tứ công phong ấp…” Dịch nghĩa: “Đến năm Nhâm Tuất (1082) nhà vua đặc biệt ban thêm cho một quân Thanh Hoá, cho ông làm phong ấp…” (Thơ văn Lý - Trần). Đối chiếu Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, năm Nhâm Tuất, kỷ Lý Nhân tông, chỉ ghi chép mỗi một sự kiện: “Nhâm Tuất, năm thứ 7 (1082) mùa xuân, đem công chúa Khâm Thánh gả cho châu mục châu Vị Long là Hà Di Khánh”. Ngoài ra không còn sự kiện nào khác. Sự kiện Lý Thường Kiệt được vua nhà Lý đặc biệt cho giữ thêm việc trông coi Thanh Hoá và cuối đời Lý Nhân tông. Đối chiếu văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn chép: “Anh Vũ Chiêu Thắng sơ, bao thiên tử nghĩa đệ, tri Ái Châu Cửu Chân quận (九 真 郡 ) Thanh Hoá trấn chư quân sự, phong thực Việt Thường vạn hộ”Dịch: “Đầu năm Anh Vũ Chiêu Thắng, (1076-1084), Thái uý được phong làm em nuôi vua, trông nom mọi việc quân ở các châu thuộc trấn Thanh Hoá, quận Cửu Chân, châu Ái và phong cho thái ấp một vạn hộ ở Việt Thường” (Thơ văn Lý - Trần). Như vậy, đầu năm Anh Vũ Chiêu Thắng phải là năm 1076, không thể là năm 1082 vì năm 1082 đã sang khoảng cuối niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng, chỉ còn hai năm (1082-1084) là hết niên hiệu. Có lẽ các nhà khoa học đã lầm lẫn chữ “sơ” và chữ “bao”. Theo đúng mặt chữ Hán, chữ “sơ”(初) này là bắt đầu, đầu tiên (niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng) tức là năm 1076, còn chữ “bao”(褒) này là “bao phong”, khen ngợi mà phong cho là “Thiên tử nghĩa đệ”(em nuôi vua), bị nhầm là chữ “bao”(包) là bao bọc, bao gồm, rồi ghép hai chữ “sơ, bao” trong câu “Anh Vũ Chiêu Thắng sơ, bao thiên tử nghĩa đệ” lại thành “Anh Vũ Chiêu Thắng sơ bao”và hiểu sai lệch thành khoảng những năm đầu Anh Vũ Chiêu Thắng. Tuy nhiên cho dù cách hiểu này là đúng thì “những năm đầu” cũng chỉ vào khoảng 1076 – 1078, từ 1079 đến 1081đã là khoảng giữa niên hiệu. Các tác giả không thể suy diễn theo ý muốn chủ quan của mình.
          Chúng ta cũng cần xem lại con số “19 năm” Lý Thường Kiệt làm quan ở Thanh Hoá. Chức “Tri Ái Châu quận Thanh Hoá trấn chư quân châu sự” không phải là chức trọng nhậm mà là chức kiêm nhiệm. Chức quan chính của ông là ở Kinh đô. Đặc biệt từ sau Lý Thái tông mất, Lý Nhân tông nối ngôi còn nhỏ, mới 7 tuổi, Thái sư Lý Đạo Thành đang giúp đỡ chính sự, “lấy chức Tả giám nghị đại phu ra coi châu Nghệ An”. Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn rằng: “Có lẽ vì Nhân tông nghe lời mẹ đẻ (Ỷ Lan) giết thái hậu Thượng Dương, Đạo Thành vì can ngăn phải “ra trấn bên ngoài” (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm Giáp Dần (1074), Đạo Thành được làm Thái phó Bình chương, tức là tạm quyền Tể tướng (Thái uý bình chương). Năm Ất Sửu (1085), Lê Văn Thịnh làm Thái sư tể tướng, Lý Thường Kiệt vẫn giúp nhà vua trông coi chính sự, quân đội và đánh giặc. Cho nên, các bia Báo Ân, Linh Xứng đã chép những chữ như “đặc gia” (đặc biệt ban thêm), “gia kính” (kính trọng mà ban thêm) chức trông coi việc quân ở Thanh Hoá.
          Nếu so sánh về số đông, các nhà khoa học thuộc về nhóm 1082 đông hơn nhóm 1029 nhiều lần. Tuy nhiên, khoa học không thuộc về số đông ! Thực tế cho thấy, vấn đề Danh xưng Thanh Hoá, mốc năm 1082, tư liệu trích dẫn thiếu chính xác, lập luận nhiều suy diễn, trong khi năm 1029 có căn cứ khoa học hơn ./.

(Nghe, đọc từ Hội thảo khoa học “Thanh Hoá đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương khởi đầu và diễn biến”)



Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

QUỐC MẪU TRỊNH THỊ NGỌC LỮ VÀ QUỐC VƯƠNG TƯ TỀ

MỘT NGHI ÁNTRONG LỊCH SỬ THỜI LÊ SƠ
HOÀNG TUẤN PHỔ
Lê Thái tổ thuở sinh thời, theo sử sách có  ba bà vợ: Trịnh Thị Ngọc Lữ được phong làm Thần phi; Phạm Thị Nghiêu được phong làm Huệ phi; Phạm Thị Ngọc Trần chức phong Hiền phi. Theo quy định thời bấy giờ, vợ vua ngoài chính cung hoàng hậu có 3 bậc phi, 9 bậc tần.

 Sách “Đại Việt thông sử” chép: “Thái tổ không lập chính thất (vợ cả ) chỉ có mấy người là Quận vương mẫu Trịnh Thần phi và Phạm Huệ phi cùng hoàng hậu (bà Ngọc Trần) mà thôi”. Gần đây, một số tài liệu nói rằng Thái tổ còn lấy bà A, bà B nhưng chưa đủ độ tin cậy. Và, dẫu Thái tổ lập đủ 3 bậc phi, 9 bậc tần thì bà Trịnh Thị Ngọc Lữ vẫn là người đứng đầu danh sách với chức phong Thần phi.
Có lẽ vì con trai là quốc vương Tư Tề bị truất ngôi, rồi phế bỏ làm thường dân, tiểu sử bà Ngọc Lữ ghi chép quá sơ sài, chỉ độ vài ba dòng. Riêng mục “Thế thứ” nhà Lê, nhân vật Tư Tề trong “Đại Việt thông sử”, Lê Quý Đôn chép tương đối rõ ràng: Tư Tề theo vua cha đi đánh giặc Ngô, tính dũng cảm, ham giết giặc. Năm 1426 được trao chức Thị trung. Năm 1427 giao thêm chức Tư đồ. Cuối năm ấy, Tư Tề đi với Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin để thực hiện hoà ước với Vương Thông. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Tư Tề được phong làm Hữu tướng quốc, tước Quận vương. Kế theo, nhà vua sai Nhập nội kiểm hiệu Bình chương sự Lê Vấn, Nhập nội Đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội Thiếu phó Lê Văn Linh, mang kim sách lập Tư Tề làm Quốc vương tạm coi việc nước, và lập con thứ là Nguyên Long làm Hoàng thái tử. Năm 1432, Thái tổ sai Quốc vương Tư Tề đem quân đi đánh châu Mường Lễ (sau đổi Phục Lễ) bức hàng tù trưởng Đèo Cát Hãn và con y là Đèo Mạnh Vượng rồi đem quân về. Lúc bấy giờ nhà vua mệt mỏi vì nhiều bệnh, chính sự lớn của nhà nước đều giao cho Tư Tề quyết định…
Như vậy, TháI tổ sinh năm 1385, lấy bà Ngọc Lữ muộn nhất năm 1405 (20 tuổi) và sinh Tư Tề muộn nhất năm 1410. Những mốc thời gian ấy hết sức quan trọng vì chúng gián tiếp nói lên công lao của bà Ngọc Lữ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược.
Thái tổ cưới bà Ngọc Lữ đầu tiên, nhưng chưa định bà chính thất. Tuy nhiên với chức phong Thần phi cao nhất trong ba bậc phi, thì bà  không phải là chính cũng như chính. Bà Ngọc Lữ là người cai quản mọi việc trong nhà khi chồng làm phụ đạo và cai quản mọi việc trong cung khi chồng lên ngôi vua. Lê Triều ngọc phả cho biết thuở niên thiếu Lê Lợi chăm lo sách đèn, là bạn học với Nguyễn Thận, Lê An, tuổi trưởng thành, vua giữ chức phụ đạo Khả Lam, làm “quân trưởng” một phương. Thơ Nguyễn Trãi hay nhắc tới 10 năm nghiền ngẫm binh thư, binh pháp của Lê Lợi. Tất yếu bà  Ngọc Lữ phải lo quán xuyến mọi việc gia đình. Đây là một gia đình đặc biệt lớn: hàng ngàn khoảnh ruộng, hàng ngàn gia nhân. Trong số hàng ngàn gia nhân này, nhiều người vốn là hào kiệt bốn phương trốn tránh giặc Minh hoặc mang chí lớn cứu dân cứu nước tụ họp về đây, núp dưới danh nghĩa làm thuê, tôi tớ, để che mắt địch. Họ ngày cày ruộng, đêm luyện võ.  Một trong những địa danh nổi tiếng nhất ghi đậm dấu ấn trong lịch sử là động Chiêu Nghi. Trịnh Khả, Vũ Uy, Trương Lôi, Trương Chiến…được Lê Lợi thu dụng làm con nuôi, nổi danh là những nông phu cày ruộng giỏi, đều là những võ tướng kiệt hiệt đứng dưới cờ nghĩa quân Lam Sơn, chỉ huy đội quân thiết đột xông pha chiến trận, vào sinh ra tử, dũng cảm đi đầu. Những tài danh của đất nước như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Bùi Quốc Hưng, Lê Văn Linh, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Xí, Nguyễn Chích..tìm đến tụ nghĩa, việc tiếp đãi không thể tuỳ tiện. Đành rằng nhiều người tự cày ruộng lấy thóc gạo mà ăn nhưng còn trâu bò, cày cuốc, giống má, bão lụt, nắng hạn…Cái ăn lại cái mặc. Nhất là vấn đề lương thực chuẩn bị cho nghĩa quân khi khởi nghĩa. Nhà họ Lê trên đất Lam Sơn phải tích luỹ mấy đời, ít nhất là từ cụ bà Trịnh Thị Ngọc Thương, mẫu thân của đức Thái tổ. Bà Ngọc Lữ được tiếp nhận một gia tư giàu có nhưng miệng ăn núi lở, nếu không biết làm cho của cải sinh sôi, Thái tổ không thể rảnh tay, yên lòng mưu đồ đại sự và phất cờ đại nghĩa dựng nên nghiệp lớn.
Bà Ngọc Lữ xứng đáng là một nội tướng vào bậc tài giỏi nhất trong lịch sử.
Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) nghĩa quân Lam Sơn khởi binh, tháng tư năm ấy, quân Minh nhờ kẻ phản thần dẫn đường, đánh thẳng vào hậu cứ Lam Sơn, bà Phạm Thị Nghiêu bị nội quan nhà Minh là Mã Kỳ bắt. Theo hầu đức Thái tổ còn lại là bà Ngọc Lữ và bà Ngọc Trần. Năm 1424, bà Ngọc Trần mất ở Nghệ An. Trong nội cung chỉ còn lại bà Ngọc Lữ. Sau mười năm lặn lội núi sông cùng chồng nằm gai nếm mật, năm 1428, cuộc chiến toàn thắng, con trai Tư Tề được sách lập làm quốc vương “tạm coi việc nước”, bà Ngọc Lữ mới được phong chức Quốc thái mẫu. Năm 1433 (năm năm sau) Quốc vương Tư Tề bị giáng xuống Quận vương, bà Ngọc Lữ cũng bị giáng theo làm Quận mẫu. Năm 1438, vua Thái tông phế truất Quận vương Tư Tề làm thứ dân, bà Ngọc Lữ chỉ còn lại chức Thần phi !
          Tại sao bà Ngọc Lữ không bị đuổi làm thường dân ?
          Vua Thái tông và đám quần thần xu nịnh thương tình bà chăng ? Có lẽ không phải ! Hẳn bởi công lao bà lớn quá, quá lớn mà bản thân không làm điều gì sai trái ? Đáng tiếc cũng đáng buồn là trong số 28 vợ vua thời Lê sơ được Lê Quý Đôn chép vào mục “Liệt truyện” chỉ có bà Ngọc Lữ bị thiệt thòi nhất: Cuộc đời một phụ nữ, công lao dường ấy chỉ được tóm gọn trong vài dòng chữ ! Nhà sử học không có tài liệu chăng, hay ông không dám chép nhiều hơn ?
          Bà Ngọc Lữ và con trai Tư Tề là hai tấn thảm kịch, hai số phận, đồng thời là hai nghi án liên quan với nhau trong lịch sử thời Lê sơ.
          Cuối đời, đức Thái tổ sinh nhiều bệnh tật nên mệt mỏi, ốm yếu liên miên, quyền giám quốc giao cho Quốc vương Tư Tề, một người khí chất cứng rắn, từng trải chiến trận, lập công nơi chiến trường, lại cùng Lưu Nhân Chú vào ra hang hùm ổ sói khiến tướng giặc Vương Thông thành Đông Quan phải khuất phục. Đám bề tôi cậy công hãn mã muốn lộng quyền, chuyên quyền không nổi, bí mật ra vào tẩm điện, đặt điều nói xấu Tư Tề với vua, nhằm đánh đổ Quốc vương để thay vào Nguyên Long, một chú bé mới mười một tuổi. Quốc sử chép: Bấy giờ nhà vua mệt mỏi vì nhiều bệnh, chính sự lớn đều giao cho Quốc vương quyết định. Nhưng vương mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tỳ thiếp, dần dần không hợp ý vua. Năm thứ 6 (1433) vua gọi Thiếu uý Lê Khôi hỏi về việc lập người nối ngôi, Lê Khôi bàn nên lập Nguyên Long. Bấy giờ nhà vua mới quyết. Trong tờ chiếu, Tư Tề bị kết tội: “Không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn trời đất, không theo đạo của các đấng tiên vương”.
          Như vậy, tội của Quốc vương Tư Tề quá lớn, vua giáng xuống Quận vương còn là nhẹ ! Nhưng tại sao mới “mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tỳ thiếp”, bỗng dưng sinh ra lắm tội to lớn tày trời đến thế ? Phải chăng trong lúc quá mệt mỏi, đầu óc kém sáng suốt, lại luôn bị ám ảnh bởi mộng mị về chuyện bà Hiền phi Ngọc Tần trách móc không thực hiện đúng lời hứa khi bà tuẫn tiết, nên muốn bỏ trưởng Tư Tề thay thế con thứ Nguyên Long ? Tại sao nhà vua muốn phế mà không dám quyết phải nhờ vào ý kiến của Lê Khôi mới dám quyết ? Vì Tư Tề không có tội hoặc không đáng tội. Giả sử Tư Tề mắc những tội tày trời đúng như trên thì vua cần gì phải hỏi ai ? Sự thực, Thiếu uý Lê Khôi đưa đón ý vua, chung quanh vua còn có đám quần thần tài thêu dệt, giỏi nịnh hót như bọn tiểu nhân Lê Quốc Khí, chuyên hãm hại người hiền lương mà chính vua cũng đã nhận ra nên ban lệnh từ nay về sau cấm không được dùng. Sau này, Thủ tướng Lê Sát muốn dùng lại Lê Quốc Khí nhưng vì đã có lệnh cấm của Thái tổ nên đành phải thôi. Tại sao Lê Sát muốn dùng lại Lê Quốc Khí ? Phải chăng bởi “đồng khí tương cầu” ? Ai dám chắc trong vụ giáng truất Tư Tề không có bàn tay Lê Sát ?
          Sau khi lên ngôi, Nguyên Long vẫn chưa yên lòng về Tư Tề. Sử chép: “Có 3 người thị nữ chạy đến tâu với vua Thái tông rằng: Quận vương (Tư Tề) nói nhiều điều càn bậy, quái gở, tỏ ra không thuận. Nhà vua nổi giận, bảo các văn võ đại thần và bá quan không được vãng lai tới nơi ở của Quận vương. Còn Quận vương nếu không có người tới gọi thì không được vào triều. Nếu ai dám tư tình dẫn vào cửa hoặc trăm quan có ai dám tự ý đến nhà Quận vương thì bị tội nặng”. Lúc này vua Nguyên Long mới 12 tuổi. Liệu có phải là ý tứ của vua hay do đám bồi thần đứng đầu là Lê Sát, phụ chính Thủ tướng mớm lời ? Tư Tề Quận vương trở thành tên tội phạm bị giam lỏng. Dĩ nhiên lời nói của ba tên thị nữ chưa thể đáng tin. Nhưng đối với người chấp pháp chuyên quyền chỉ cần “chứng”, không cần “cung” mà chứng ở đây, phi lý thay, chỉ là lời nói “khẩu thiệt vô bằng” !
Tuy nhiên, Tư Tề theo danh nghĩa vẫn là Quận vương. Tư Tề chưa chết, họ còn chưa ăn ngon ngủ yên. Nhưng muốn giết Tư Tề cũng khó. Cái khó nhất là họ sợ búa rìu dư luận. Phải giết bằng cách khác. Và năm 1438, Quận vương Tư Tề bị phế bỏ làm dân thường ! Sau đó ông mất ! Ông tự tử ? Ông bị ngộ độc ? Hay ốm bệnh ? Hoặc ông chết đói ? Ai quan tâm đến một gã thường dân tứ cố vô thân, sinh vô gia cư, tử vô địa táng ? Nhưng dù sao đó cũng là giọt máu của Tiên đế, sinh thời ngài có đuổi làm dân thường đâu ? Người ta buộc phải truy phong kẻ thường dân Tư Tề làm Quận Ai vương ! Cũng để che miệng thế gian ! Và biết đâu, cả vì họ sợ cái linh hồn oan khuất Tư Tề sống khôn chết thiêng sẽ báo oán trả thù !
          Trong những năm tháng cuối đời mình, bà Ngọc Lữ sống thế nào ? Không có tài liệu ghi chép. Chúng ta có thể hình dung nỗi đau khổ, sự phẫn uất của bà. Tư Tề là con trai duy nhất, rứt ruột đẻ ra của đức Lê Thái tổ và bà. Hai mẹ con bà đều có công đáng kể vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Bà làm gì nên tội ? Con bà cũng làm gì nên tội ? Con bà sống dở chết dở thì bà cũng dở sống dở chết ! Sau khi con bà chết thì bà sống chẳng bằng chết ! Tuy nhiên bà vẫn sống đến niên hiệu Thái Hoà (1443-1453) tức là sau khi xảy ra vụ án Lệ Chi viên (1442) một thời gian. Kể ra ông vua này cũng lạ, lúc sống, nào Quốc vương, nào đại thần phải chịu tội chết, sau khi nhắm mắt xuôi tay, ông còn gián tiếp gây cảnh thảm sát cả ba họ công thần Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ! Vua Nhân tông lên ngôi kế vị, nhưng hy vọng gì ở ở ấu chúa còn bồng bế trên tay một sự thấu tỏ hay giải nỗi oan tình ?!
          Vấn đề gần sáu trăm năm sau hậu thế chúng ta đặt ra là “Liệu Tư Tề có bị oan khuất thật không” ?
          Có mấy điều đáng chú ý nhất:
          1. Sự luận tội “tiền hậu bất nhất”, trước chỉ là “mắc chứng điên, giết bừa các tỳ thiếp, dần dần không hợp ý vua” sau nâng lên “Không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn trời đất, không theo đạo của các đấng tiên vương” để dẫn đến án phế lập ngôi Hoàng đế, phế truất Quốc vương hạ xuống Quận vương.
          2. Lịch triều hiến chương, mục Nhân vật của nhà sử học Phan Huy Chú cho biết Tư Tề mắc tội “hoang dâm phóng túng” nên bị truất ngôi.
          3. Tư Tề bị quản chế rất ngặt, ba thị nữ hẳn là do vua sai tới, vua muốn bắt nói gì tất họ phải nói, để tạo cái cớ phế bỏ làm dân thường. Ba điều đó nói lên vụ án Quốc vương Tư Tề rất mờ ám, đáng gọi là một nghi án của lịch sử đương thời. Bà Quốc mẫu Trịnh Thị Ngọc Lữ do đó bị liên luỵ theo để chết dần chết mòn tại nơi nào không rõ, đến nỗi cả ngày tháng năm bà từ giã cõi đời oan khuất cũng chẳng được biết đến !
          Cuộc Hội thảo này do họ Lê tổ chức dẫu hơi muộn còn hơn không, để trả lại sự công bằng cho một bà mẹ Việt Nam trong lịch sử đã gần 600 năm chịu oan trái, bất công. Hậu thế chúng ta không quên công đức trời cao biển rộng của Lê Thái tổ tất phải biết đến và nhớ công lao vất vả gian nan khôn xiết của Bà. Bà phải được khôi phục chức danh Quốc mẫu như đức Thái tổ đã ban phong và xứng đáng với sự thờ phụng hương khói muôn đời./.