Hiển thị các bài đăng có nhãn Vốn từ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vốn từ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Đậu khấu 豆蔻

Đậu khấu (豆蔻 dòukòu) là cây họ gừng, thân rễ to bằng ngón tay, gốc bẹt, lá dài, quả hình trứng, dùng làm thuốc và gia vị. Song đậu khấu hay được dùng ẩn dụ để ví như người thiếu nữ độ tuổi 13-14. Phép ẩn dụ này có xuất xứ từ bài thơ Tặng biệt kỳ nhất của nhà thơ Đỗ Mục (杜牧).

赠别•其一Tặng biệt kỳ nhất Tặng lúc chia tay (I)
娉娉袅袅十三余
豆蔻梢头二月初
春风十里扬州路
卷上珠帘总不如
Phinh phinh niểu niểu thập tam dư
Đậu khấu sao đầu nhị nguyệt sơ
Xuân phong thập lý Dương Châu lộ
Quyển thượng châu liêm tổng bất như
Tuổi độ mười ba dáng mảnh mai
Như hoa đậu khấu mới giêng hai
Gió xuân mười dặm Dương Châu thổi
Rèm ngọc treo cao nào có ai.

Dịch nghĩa:

(Nàng ấy) mảnh mai yểu điệu, mới hơn mười ba tuổi,
(Tựa như) hoa đậu khấu trên ngọn cây mới nở vào đầu tháng hai.
Gió xuân thổi trên mười dặm đường Dương Châu,
Rèm ngọc đều cuốn lên, nhưng chẳng có ai giống như nàng.

Nhất tự sư bán tự sư 一字師,半字師

Đời Đường có một nhà sư tên là Tề Kỉ (齊己) rất thích làm thơ và rất khiêm nhường nhờ người khác chỉ giáo. Một lần, ông đã tự mình đem bài thơ “Tảo mai” của ông đến chỗ một nhà thơ rất nổi tiếng đương thời là Trịnh Cốc 鄭谷 (849-911) để được chỉ giáo. Trịnh Cốc đọc kỹ bài thơ của Tề Kỉ và sau đó nghiêm túc chỉ vào hai câu trong bài thơ: "Tiền thôn thâm tuyết lý, tạc dạ sổ chi khai" rồi nói: “Sổ chi” phi “tảo” dã , vị nhược “nhất chi” giai " [数枝'非'早'也,未若'一枝'佳]( " Mấy cành" không phải là sớm , chưa hay bằng "một cành" ). Tề Kỷ bèn sửa thành: Tạc dạ nhất chi khai (Một cành đêm nở hoa) và nhận Trịnh Cốc làm "nhất tự sư " (thầy dạy một chữ).

Toàn bộ bài thơ “Tảo mai” sau khi được Trịnh Cốc chỉ giáo như sau:

早梅Tảo mai Mai nở sớm
萬木凍欲折,
孤根暖獨迴。
前村深雪裏,
昨夜一枝開。
風遞幽香出,
禽窺素艷來。
明年如應律,
先發望春臺。
Vạn mộc đống dục chiết,
Cô căn noãn độc hồi.
Tiền thôn thâm tuyết lý,
Tạc dạ nhất chi khai.
Phong đệ u hương xuất,
Cầm khuy tố diễm lai.
Minh niên như ưng luật,
Tiên phát vọng xuân đài.
Vạn cây băng giá chết
Một cội ấm mọc ra
Đầu xóm trong tuyết đặc
Một cành đêm nở hoa.
Gió xa đem hương ẩn
Chim ngắm hoa trắng ngà
Năm tới như đúng tiết
Vườn xuân sáng ánh tà.

Như vậy, chỉ cần thay đổi một chữ mà bài thơ trở nên hay hơn nhiều. Tề Kỉ tôn Trịnh Cốc làm thầy. Trịnh Cốc chỉ dạy có một chữ mà được làm thầy, nên có thành ngữ “nhất tự sư”. Về sau thành ngữ này được mở rộng thành “nhất tự sư, bán tự sư’ (一字師,半字師).

Ở Việt Nam chúng ta, có lẽ để giúp đọc thuận tai, ông cha ta đã thêm chữ “vi” vào rồi trở thành câu: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (一字為師,半字為師).

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Xuân lộ thu sương nghĩa là gì?

春露秋霜 chūn lù qiū shuāng
>> Âm Hán Việt: Xuân lộ thu sương

1. Ý nghĩa: ví như ân trạch và uy nghiêm, thường dùng để tưởng nhớ tổ tiên

2. Xuất xứ: Thành ngữ Xuân lộ thu sương có xuất xứ từ thiên 19 Chiếu Sách (诏策第十九), sách Văn Tâm Điêu Long (文心雕龙) của tác giả Lưu Hiệp (刘勰) ở nước Lương thời Nam Triều (南朝 • 梁) có đoạn viết: “ 眚灾肆赦, 则文有春露之滋 ; 明罚敕法, 则辞有秋霜之烈”

Âm Hán Việt là: “sảnh tai tứ xá,tắc văn hữu xuân lộ chi tư;minh phạt sắc pháp,tắc từ hữu thu sương chi liệt”

Tạm dịch nghĩa như sau: ân xá tai vạ lỗi lầm thì trong văn ắt có đầy ân trạch (của vua); sắc pháp mà hình phạt sáng suốt thì trong từ ắt có thừa uy nghiêm.

Câu trên nằm trong đoạn văn sau đây trong thiên Chiếu Sách, sách Văn Tâm Điêu Long.

夫王言崇秘,大观在上,所以百辟其刑,万邦作孚。故授官选贤,则义炳重离之辉;优文封策,则气含风雨之润;敕戒恒诰,则笔吐星汉之华;治戎燮伐,则声有洊雷之威;眚灾肆赦,则文有春露之滋;明罚敕法,则辞有秋霜之烈:此诏策之大略也。

* Thành ngữ Xuân lộ thu sương thường xuất hiện trong những câu đối, trong những bức hoành phi, nó biểu hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên, biểu hiện lòng tôn kính đối với ơn đức của tổ tiên.

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011

Đình tiền bất khả thực tiêu tang

Tại sao không nên trồng chuối trước nhà?

Khi lý giải câu hỏi “Tại sao không nên trồng chuối trước nhà?”, có người cho rằng cây chuối chủ yếu sống nơi đất ẩm, tàu lá thường tả tơi, xơ xác sau những trận mưa to hoặc gió bão, có những buồng chuối quá nặng làm đổ gục cả cây, có thể vì thế người ta tránh không trồng chuối phía trước nhà. Người khác thì cho rằng cây chuối được ví như thân phận người đàn bà, mà ngày xưa người đàn bà không được tôn trọng cho nên không trồng cây chuối trước nhà. Cũng có người nói rằng cây chuối có ma nên không thể trồng trước nhà.

Thiết nghĩ những lý giải như trên có phần võ đoán. Thực ra, tục không trồng cây chuối trước nhà có từ rất lâu nên trong dân gian có câu tục ngữ “Chuối đằng sau, cau đằng trước”. Xét về phương diện chữ Hán, có câu 庭前不可植蕉桑 (Đình tiền bất khả thực tiêu tang), nghĩa là “Trước sân không nên trồng chuối và dâu”. Từ tiêu tang (蕉桑) đồng âm với từ tiêu tang (消喪), nghĩa là mất mát, tiêu tan. Chính vì cớ này mà khi nói đến tiêu tang (chuối và dâu) thì liên tưởng đến sự không may mắn, cho nên ông bà ta không trồng chuối và dâu trước nhà là lẽ như vậy.

Xét về phương diện tiếng Việt, người miền Nam thường đọc chữ “chuối” như chữ “chúi” (nghĩa là ngã xuống) cho nên từ chuối liên tưởng đến sự không may mắn, chính vì thế mà người miền Nam cũng không trồng chuối trước nhà.

Qua lý giải này, hy vọng các bạn sẽ hiểu thêm về một phong tục cổ truyền và giúp làm giàu thêm vốn từ chữ Hán của bạn.