Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Bài học lịch sử “TIN BỢM MẤT BÒ”

    Hoàng Tuấn Phổ
Tượng Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh
                                                Ảnh: Internet
Truyền thống Việt – Miên- Lào- Xiêm tình nghĩa láng giềng giáp mái kề hồi, sớm khuya tắt lửa tối đèn có nhau. Vua Gia Long, trước khi mất, căn dặn Hoàng Thái tử (Tức Minh Mạng): “Không được gây hấn ngoài biên”. (Đại Nam Thực lục). Năm 1823, Diến Điện sau mấy lần xâm lược Xiêm, bị nhà Nguyễn giúp Xiêm đánh thua, xin lập đồng minh Việt- Diến chống Xiêm, Minh Mạng từ chối. 

Nhà vua nói với triều thần: “Không nên bỏ tình hòa hiếu mà tìm sự cừu thù”. (Đại Nam thực lục).Dĩ nhiên, “Bát đũa còn có khi xô” quan hệ Việt – Xiêm không tránh khỏi có lúc bị sứt mẻ. Bản tính các vua Xiêm hay cậy mạnh, nhiều tham vọng, muốn thôn tính Miên (Căm puchia), thừa thắng xâm chiếm luôn vùng đất Gia Định (Nambộ), để Lào hết chỗ dựa, dễ bề đô hộ. Ví dụ, năm 1833, quân Xiêm đánh chiếm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, tấn công cả miền đất phía tây Quảng Trị và xâm phạm biên giới Nghệ An, uy hiếp kinh đô Huế, khiến triều Nguyễn hết sức lo lắng. Phải mất mấy năm vất vả, quân Nguyễn mới đuổi được quân Xiêm ra ngoài bờ cõi, giữ gìn bình yên ba nước anh em Việt – Miên – Lào.  Đối với Xiêm, sau chiến tranh xâm lược, triều đình Nguyễn vẫn sẵn sàng bỏ qua lầm lỗi, lại quan hệ hoà hiếu với Xiêm.
Ngược dòng lịch sử, chính Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long), ông chúa cuối cùng của vương triều Nguyễn, bị quân Tây Sơn chiếm mất Gia Định, dồn đến chân tường, vẫn không dám quyết định cầu viện vua Xiêm vì không tin lắm người bạn láng giềng đầy tham vọng. Tuy nhiên, một sự kiện bất ngờ xảy ra đã đưa đẩy ông vào vòng xoáy lịch sử. Nguyên do, tướng Châu Văn Tiếp của Nguyễn Ánh bị thua trận, chạy thẳng sang Vọng Các (Băng Cốc) cầu cứu vua Xiêm. Vua Xiêm sai hai người cháu, tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem hai vạn quân đánh Gia Định mượn tiếng giúp Nguyễn Ánh để trả thù Tây Sơn vốn đã gây cho Xiêm mối bất bình từ trước. Hai tướng Xiêm thả cho quân sĩ cướp bóc, hãm hiếp dân lành, bị quân Tây Sơn đánh thua tan tác. Nguyễn Ánh thất vọng, tập hợp bề tôi của mình rút về đảo Thổ Chu. Theo lời đức cha Bá Đa Lộc (tức Pigneau) kể trong thư đề ngày 20 tháng 3 năn 1785: Nguyễn  Ánh than rằng người Xiêm lừa gạt ông, mượn cớ lập lại quyền bính cho ông mà cướp bóc dân chúng và bắt sống ông thôi! (Tạ Chí Đại Trường: Lịch sử nội chiến 1771- 1802- NXB Công an nhân dân, tr.143).
Dẫu sao, sai lầm của của Châu Văn Tiếp dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, Nguyễn Ánh là chủ soái vẫn phải chịu trách nhiệm.
Mạc thị gia phả,tập sử liệu của người đương thời sống trong cuộc (Vũ Thế Dinh ) chép rõ: “Chiêu tăng và Chiêu Sương thả quân cướp bóc tàn hại dân chúng. Vua (tức Nguyễn Ánh) ngăn cản không được, nhỏ nước mắt than: “Việc phục quốc cốt là lo cho nước cho dân, thế mà nay để cho bọn ấy thả sức làm điều bạo ngược, làm quốc chủ như ta làm gì, kẻo rồi giặc nguỵ (tức Tây Sơn-HTP) lại vin vào cớ đó vu cho ta rước giặc về tàn hại nhân dân. Ta không nỡ nhìn thấy cảnh đó!” Chư tướng xin từ nay không để mặc cho bọn chúng hoành hành tàn bạo nữa” (Mạc thị gia phả-NXB Thế giới). Sau đó, nhiều lần vua Xiêm muốn gửi quân sang giúp, Nguyễn Ánh đều không nhận. Chẳng hạn: Tháng 9 năm Quý Sửu (1793) vua Xiêm sai đại tướng Chất Trì đóng quân 5 vạn ở Nam Vang (Nông Pênh) gửi 500 chiến thuyền đậu biển Hà Tiên, đua thử hẹn giúp Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn nhưng ông từ chối khéo. Nguyễn Ánh nói với tướng sĩ:“Mượn người ngoài giúp, đưa họ vào trong nước mình, sợ di mối hại về sau”. (Đại Namthực lực chính biên).
Nhưng, ở đời “không cái dại nào giống cái dại nào” ! Nguyễn Ánh thoát bàn tay vua Xiêm, lại rơi vào cạm bẫy Bá Đa Lộc!
Không biết đã có bao nhiêu độc giả hiểu lầm, bởi một giáo sư nổi tiếng hàng đầu ngành sử học, dùng ngòi bút đanh thép của mình kết tội các vua Nguyễn (trong đó có Gia Long Nguyễn Ánh) “bành trướng, xâm lược” và “chính sách xâm lược tai hại của triều đình nhà Nguyễn càng làm cho cuộc khủng hoảng trong nước thêm sâu sắc”.Ông tâng bốc Xiêm hết lời và mạt sát Nguyễn cũng cạn lời! (Trần Văn Giàu:Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn… - NXB Văn hoá, tr.100- 119). Sự thật, từ thời các chúa Nguyễn, hai nước Miên, Lào đã nhờ Nam hà “bảo hộ”để chống lại sự bành trướng của Xiêm. Và các chúa Nguyễn rồi tiếp theo là các vua Nguyễn đều hết lòng với Miên, Lào trong việc “bảo hộ”, vì “bảo hộ” bạn cũng tức là bảo vệ mình. “Bảo hộ” là gì ? Theo quan niệm các vua chúa nhà Nguyễn “bảo hộ” là giúp đỡ, bảo vệ, khác với “đô hộ” là thống trị, xem nước người ta như thuộc quốc, thuộc địa của nước mình. Chính sách bảo hộ của nhà Nguyễn khá minh bạch. Gia Long bảo triều thần: “Bảo hộ là cốt giữ cho nước ấy được còn, chứ không phải để giám sát, cai trị nước ấy. Vậy nên hạ lệnh cho bọn Thuỵ (Viên quan phụ trách bảo hộ Cao Miên) chớ nên can dự vào chính sự nước ấy, để cho phiên vương (vua nước nhỏ ở bên cạnh nước lớn) được tự làm việc thì lòng dân sẽ yên”. Một số triều thần muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Cao Miên để đối phó dứt khoát với Xiêm, Gia Long nói: “Được một nước Chân Lạp (Cao Miên, Campuchia) để sự lo về sau, trẫm quyết không làm như thế” (Đại Namthục lục). Đó là quan điểm đúng đắn mang tầm chính trị sáng suốt, sâu xa của ông vua giỏi.
Người ta hay nhắc đến hiệu ước Versaillesnhư một chứng cớ không thể chối cãi để kết tội Nguyễn Ánh “cắt đất xin ngoại viện”, “rước voi dày mả tổ”…! Giáo sư Phan Huy Lê đầu ngành sử học Việt Nam, kết luận Hội thảo khoa học, cho rằng đó là “tì vết” của Gia Long Nguyễn Ánh. Ý kiến ông chỉ là cách nói khác của một quan điểm xưa cũ. (Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn…” 18-19/10/2008- NXB Thế giới ấn hành 2008)
Vậy thực chất hiệu ước Versailles là gì?
Trước khi Châu Văn  Tiếp bại trận, tự ý cầu cứu vua Xiêm, thời gian khoảng một năm, Nguyễn Ánh đã nghe theo lời bàn của Bá Đa Lộc quyết định việc cầu viện phương tây. Bá Đa Lộc là ai ? Bá Đa Lộc, một nhà truyền giáo (đạo Thiên Chúa) nổi tiếng Nam hà bấy giờ. Thông thường, người ta gọi ông là đức cha cả, được triều Nguyễn phong tước Bi Nhu quận công. Ông còn các tên Pháp: (Giám mục) D’Adran, (đức ông) Pigneau, Pierre Yoseph, Georges, Pingeau de Béhaine… Công việc truyền giáo gặp khó khăn tại Nam hà vì nội chiến Tây Sơn- Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đang phải bôn ba ở Nam Vang được Mạc Thiên Tứ trấn thủ Hà Tiên thời chúa Nguyễn đưa đến gặp Nguyễn Ánh tại đảo Thổ Chu. Chính ở đây, đức cha cả, năm 1784, hứa giúp ông chúa mất nước cầu viện Đại Tây.
Nhiều giáo sĩ nước ngoài có mặt ở Việt Nam bấy giờ, qua các thư từ, giấy tờ đều ghi nhận: Không riêng Nguyễn Ánh mà cả Tây Sơn (Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ?) và chúa Trịnh đều muốn họ xin Tây dương giúp cho tàu to súng lớn, binh lính thiện nghệ để nhanh chóng tiêu diệt đối phương. Cả ba ông chúa nước Nam đều được các giáo sĩ đặt lên bàn cân, và cán cân nghiêng về Gia Định vì Nguyễn Ánh có vẻ đáng tin hơn, trong khi Bình Định cũng như Thăng Long đều đối xử tồi tệ với nhà thờ, thô bạo với cha cố.
Bá Đa Lộc đem Hoàng tử Cảnh đi cầu viện từ cuối năm 1784 đến năm 1787 (ba năm sau mới đến nước Pháp). Nghĩa là Bá Đa Lộc bế Hoàng tử Cảnh cùng đoàn tuỳ tùng đang lênh đênh trên Ấn Độ dương, hai vạn quân Xiêm của Chiêu Tăng, Chiêu Sương vẫn còn đóng ở bên kia biên giới nước Việt. Bá Đa Lộc đến Pháp đầu năm 1787, phải chờ 10 tháng sau, ngày 28/11 Hiệp ước mới được ký kết, một bên là đại diện của Louis XVI, một bên Bá Đa Lộc được Nguyễn vương (Nguyễn Ánh) ủy nhiệm với tờ giấy viết từ năm, sáu năm trước ! Không có quốc thư (đáng lẽ nhất thiết phải có mới có giá trị pháp lý) chỉ có một “tín vật” làm tin, ấy là chú bé được mang tên Hoàng tử Cảnh, lúc ra đi tuổi lên 3, bây giờ lên 7. Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu, 1.200 bộ binh, 200 pháo binh, 250 lính Phi để đổi lấy cửa biển Hội An, sau thêm đảo Côn Lôn (Côn Đảo). Pháp được toàn quyền và độc quyền thương mại ở Nam hà (Văn Tân: Cách mạng Tây Sơn-NXB Văn sử địa-Hà Nội, 1958 và tài liệu khác)...
Nhưng Hiệp ước Versailles không thành, mà giống như một trò đùa ! Nhiều năm sau ký Hiệp ước, người Pháp còn chép miệng tiếc của vì đã bỏ mất món hàng béo bở ! Họ không biết chính bởi món hàng Hiệp ước Versailles quá hời, hời tới mức không thể tin. Toàn quyền De Conway được giao trách nhiệm thi hành Hiệp ước, vốn tính đa nghi càng thêm hoài nghi. Ông đã phái nhiều đoàn đến Nam hà (miền Nam) thám thính, tìm hiểu các cửa biển, các đảo lớn nhỏ và thực lực Nguyễn Ánh...Hẳn là tên cáo già bản tính hồ nghi này đã đánh hơi thấy nhượng địa quan trọng: Cửa biển Hội An dang thuộc quyền quản lý của Tây Sơn hùng mạnh, còn Côn Lôn chỉ là hoang đảo vô dụng giữa trùng khơi mịt mùng sóng gió, nơi ẩn náu của lũ cướp biển !
Tờ báo Gazette nationale ngày 14/6/1789 xuất bản tại Pondichery viết: “Không bao giờ tình hình dễ dàng cho việc lập lại quyền bính cho ông vua mất ngôi đã trở về chiếm 5 tỉnh phía Nam như bây giờ !” Đó là một nhận xét đầy mỉa mai được báo Gazette nationale phản ánh sự tiên đoán tương lai đen tối của Nguyễn Ánh dưới con mắt người Pháp. (Thời điểm này, Nguyễn Ánh bằng thực lực của mình chỉ mới chiếm lại được vùng đất Gia Định-Nam Bộ. Trong khi Tây Sơn hùng mạnh đang cai quản cả đất nước. Và sau khi đập tan 20 vạn quân Thanh, củng cố quyền lực, nếu Quang Trung không đột ngột qua đời, Nguyễn Ánh cũng khó bề có được vùng đất đứng chân dù nhỏ bé trên đất liền, nói chi đến 5 tỉnh phía Nam). Hiệp ước Versailles thất bại, De Conway coi là một trò đùa, Nguyễn Ánh cũng xem như tờ giấy lộn. Nhưng Bá Đa Lộc không thể đi không lại về không. Con đường truyền giáo của đức cha cả có thể phải chấm hết, nếu ông bị mất hoàn toàn lòng tin đối với Nguyễn Ánh. Ông tất tả chạy ngược, chạy xuôi mới quyên góp nổi tiền mua 1.000 khẩu súng trường, và mộ được 19 người gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ hám lợi, ham danh ! Chính Bá Đa Lộc đã dụ dỗ họ, đưa họ đến miền đất hứa, làm quan và làm giàu ! Họ đến Gia Định tháng 7 năm 1789, thường ngày lo đánh chén hơn đánh giặc, và rốt cuộc đánh bài chuồn sau mấy năm “làm ăn” không “phát tài” ! Theo số liệu của các giáo sĩ bấy giờ đang ở Gia Định, trong quân đội của Nguyễn Ánh, đến năm 1800, người Tây cũng chỉ có khoảng hơn 40 người ! Như vậy, không có căn cứ, nếu nói Nguyễn Ánh dựa vào lực lượng Tây dương để đánh bại Tây Sơn. Sự thực, trong lúc Nguyễn Ánh đang lên thác xuống ghềnh ở Nam bộ, “con voi” Louis XVI đã già nua, lại đang sa lầy tại chính nước Pháp, Nguyễn Ánh làm sao “rước” nổi nó sang Nam Việt ?
Nguyên nhân thất bại của chính quyền Tây Sơn nằm trong nội bộ triều đình Nhà Tây Sơn. Năm 1792, vua Quang Trung mất, chỉ 10 năm sau, 1802, mấy anh em Quang Toản cùng tướng soái thân cận phải chịu trói ở nơi còn âm vang tiếng thét oai hùng của Nguyễn Huệ, làm vỡ mật 20 vạn quân Thanh xâm lược ! Quang Toản là một hôn quân làm hỏng sự nghiệp vĩ đại vua cha để lại, nhưng mầm tai vạ gây nên họa loạn trong hoàng thất và triều đình văn võ cũng do chính Quang Trung gieo trồng từ trước.
Khi nhà Tây Sơn sắp hết vai trò lịch sử, lịch sử tất phải chọn ai đó, không người này thì người khác, đứng ra dọn dẹp cơ đồ đổ nát để xây dựng trên nền tảng quốc gia nghìn năm văn vật một tòa lâu đài mới. Lịch sử cũng có thể chọn lầm ai đó, nhưng với Nguyễn Ánh là nhân vật xứng đáng nhất vì ông đã thành công nhất. Nếu chê Nguyễn Ánh, lịch sử sẽ chọn ai bấy giờ ? Điểm mặt các anh hùng, hào kiệt xuất hiện trong lúc bão táp nội chiến nổi lên khắp trong Nam ngoài Bắc, còn ai hơn Nguyễn Ánh hay bằng Nguyễn Ánh ? Thiết tưởng hậu thế không nên quá khắt khe hay khó tính đòi hỏi những gì lịch sử không thể có được, những gì Nguyễn Ánh không thể làm nổi. Hạn chế lịch sử từ Quang Trung đến Gia Long là không dám cởi bỏ sớm chiếc long bào thêu rồng ố vàng, cũ kỹ để thay bằng bộ “complet tân thời” mới toanh của văn minh tư sản ! Luẩn quẩn, tù túng trong cái lồng phong kiến đã trở nên quá chật hẹp, lạc hậu, Gia Long phải hết sức cố gắng để trụ vững, tạo cơ sở cho Minh Mạng phát triển, nhưng sang Thiệu Trị thì bắt đầu lung lay, và đến Tự Đức hoàn toàn chịu bất lực trước cơn giống tố phương Tây ập  tới !
Vua Tự Đức giao cho triều thần Phan Thanh Giản cắt đất giảng hòa. Nhưng đế quốc Pháp đang thèm khát thuộc địa, đâu đã no mồi sau khi nuốt trôi Sài Gòn, Gia Định ? Việt Nam mất, Campuchia, Lào cũng mất ! Triều đình Huế, phe chủ hòa do nhà vua đứng đầu đã quên bài học “Tin bợm mất bò” mà tổ phụ Nguyễn Ánh-Gia Long phải trả bằng xương máu ! Không thể nói như GS Phan Huy Lê đó là “tỳ vết” (vết xấu, vết nhơ), mặc dù sự thật thế nào, Nguyễn Ánh cũng phải chịu trách nhiệm tất cả. Rất may, Hiệp ước Versailles chỉ là “một trò đùa”, “tờ giấy lộn”. Nhưng nếu nó được thi hành nghiêm túc thì sao ? Hậu quả sẽ khó lường ! Và có thể, Nguyễn Ánh sẽ mang tội với dân tộc đã “đổi đất lấy nước”. Tội này thuộc về tự Đức và phe chủ hòa triều đình Huế “cắt đất giảng hòa” để cuối cùng mất tất cả đất và nước !
Bài học Nguyễn Ánh phải trả giá rất đắt đã trao đứa con trai đầu lòng mới lên ba-Hoàng tử Cảnh-cho hồ ly Bá Đa Lộc. Đức cha cả khoác áo thầy tu, núp dưới danh nghĩa nhà truyền giáo, thực chất là một điệp viên lợi hại. Với Bá Đa Lộc và nhiều cha cố khác, truyền giáo gắn liền với xâm lược. Sau Hiệp ước Versailles, Nguyễn Ánh tiếp tục giao phó con trai sẽ kế nghiệp nhà Nguyễn cho Bá Đa Lộc dạy dỗ, kèm cặp. Ngày giỗ gia tiên, Hoàng tử Cảnh không chịu vái lậy ông bà, Nguyễn vương hỏi đức cha cả tại sao thầy dạy học trò quên ông bà ? Bá Đa Lộc ngang nhiên trả lời: Thờ cúng ông bà, tin ông bà phù hộ con cháu sống lâu, giàu có là mê tín dị đoan ! Nguyễn Ánh bất bình bảo Bá Đa Lộc: Lễ bái là để chứng tỏ con cháu nhớ ơn tổ tiên, ông bà, để đền đáp công ơn ấy, tôi nhất quyết phải giữ đạo ông bà, vì đó là một trong những giáo dục căn bản của xứ tôi. (Tạ Chí Đại Trường-Tài liệu đã dẫn) Nguyễn Ánh bắt đầu nhận ra âm mưu thâm hiểm của Bá Đa Lộc. Ông đặc cử một số nho thần dạy bảo Hoàng tử Cảnh theo lề lối giáo dục truyền thống dân tộc. Bấy giờ ở Nam hà, thế lực giáo sĩ phương Tây rất mạnh, nhưng họ đều phải im lặng trước thái độ cứng rắn của Nguyễn Ánh, kiên quyết xây dựng một quốc gia thống nhất mọi mặt trên cơ sở truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Rất may cho dân tộc Việt Nam, người kế nghiệp Gia Long không phải Hoàng tử Cảnh mà là Minh Mạng, một vua sáng của triều Nguyễn.
Đọc lại sử cũ, chúng ta thấy “Tin bợm, mất bò” là bài học luôn luôn đúng với mọi thời đại. Thời xưa, An Dương vương vì quá “tin” cái nghĩa thông gia thân thiết của bợm Triệu Đà mà mất cả nước, cha con đều rơi vào kết cục bi thảm ! Thời nay, có phải chúng ta lại quá “tin” cái tình anh em đồng chí của Trung Quốc, để mất Hoàng Sa, rồi mười bốn năm sau, mất thêm ba đảo Trường Sa, và bây giờ...???
Dân gian đã nói: “Tin bợm mất bò”. Dân gian lại có câu: “Mất bò mới lo làm chuồng” !
Nếu bạn bảo tôi, kẻ viết bài này chỉ hay “lo bò trắng răng” ! Đúng! Tôi chỉ ôn cố tri tân. Và tôi như bạn, tất thảy chúng ta, dẫu nói bò me, hươu vượn thế nào đều phải trông cậy, tin tưởng sách lược đấu tranh sáng suốt của Đảng và Chính phủ, quyết không để một tấc đất, biển, trời Việt Nam bị giặc xâm lược chiếm đoạt.
                                                      HTP-15/7/2014    

Chú thích:   
Nguyên bài viết có đầu đề "Tin bợm mất bò", HTC đổi lại.          

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

“Bắt chấy cho mẹ chồng thấy bồ nông dưới biển” là thế nào ?

Bồ nông sống chung với hải âu
Hoàng Tuấn Công

Bạn đọc Yên Duyên Hương (Yenduyenqx@gmail.com) hỏi: “Tục ngữ Việt Nam có câu “Bắt chấy cho mẹ chồng thấy bồ nông dưới biển”. Tôi thấy các cụ hay dùng với ý là nàng dâu không thật, không tốt với mẹ chồng. Tuy nhiên, tại sao lại nói như vậy ? Tôi thấy rất khó hiểu. Ở trên mạng thấy có người dùng, nhưng không giải thích. Phiền anh Hoàng Tuấn Công giải thích nghĩa đen câu tục ngữ này. Trân trọng cảm ơn và chờ đợi.”

Cảm ơn bạn Yên Duyên Hương. Thời gian vừa qua, bạn đọc gửi khá nhiều câu hỏi, thắc mắc đến Tuấn Công thư phòng dưới dạng phản hồi. Nhiều câu tôi đã trả lời ngắn gọn ngay phía dưới phản hồi hoặc gửi riêng theo địa chỉ email. Về câu hỏi của bạn, xét thấy vấn đề khá thú vị nên tôi có bài viết riêng, sâu hơn với mong muốn có thể làm hài lòng Yên Duyên Hương và bạn đọc.
 Việc đầu tiên, tiện lợi và tin cậy nhất, ta nên tìm đến các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, các nhà làm từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam:
-“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam-Nhóm Vũ Dung-Vũ Thúy Anh-Vũ Quang Hào, giải thích: “Bắt chấy cho mẹ chồng, thấy bồ nông dưới biển (bồ nông: loài chim mỏ dài, dưới cổ có bướu đựng cá) Ng.đen: Hiện tượng nàng dâu bắt chấy cho mẹ chồng cũng hiếm như hiện tượng bồ nông dưới biển. Ng.bóng: Quan hệ mẹ chồng nàng dâu ít khi thành thật thương yêu  nhau.”
-“Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam”-Nguyễn Cừ giải thích: “Bắt chấy cho mẹ chồng thấy bồ nông dưới bể:Mẹ chồng nàng dâu có bao giờ yêu nhau, nói chuyện nàng dâu bắt chấy cho mẹ chồng khác nào nói chuyện ngược đời là nhìn thấy chim bồ nông xuống biển mò ăn”.
-“Từ điển tục ngữ Việt” của Tiến sĩ ngữ học Nguyễn Đức Dương: “Bắt chấy mẹ chồng thấy bồ nông dưới bể: Chưa rõ nghĩa”.
-“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam”-GS Nguyễn Lân: Không thấy ghi nhận câu tục ngữ đang bàn.
-“Thành ngữ, tục ngữ lược giải”-Nguyễn Trần Trụ không thấy ghi nhận và giải thích câu tục ngữ đang bàn .
-“Tục ngữ Việt Nam” của Nhóm Chu Xuân Diên-Lương Văn Đang-Phương Tri biên soạn: “Bắt chấy cho mẹ chồng, thấy bồ nông dưới biển (hoặc như bồ nông mò biển).” Vì các tác giả chỉ làm nhiệm vụ sưu tầm, tập hợp nên sách này không giải thích nghĩa của câu tục ngữ nói trên. Tuy nhiên, chúng ta thấy có thêm dị bản: “Bắt chấy cho mẹ chồng như bồ nông mò biển”!
Như vậy, ít nhất có hai cuốn sách của hai tác giả thống nhất trong cách hiểu: Nghĩa đen: Chuyện bồ nông xuất hiện ở biển hoặc kiếm ăn ở biển là rất hiếm, là ngược đời. Nghĩa bóng: Tình cảm mẹ chồng nàng dâu không thành thật, không bao giờ yêu nhau.
Cách giải thích trên có vẻ hợp lý và không có gì cần phải bàn. Tuy nhiên, chúng tôi lại nghĩ khác.
-Thứ nhất về con bồ nông:Có đúng bồ nông xuống biển hoặc mò ăn dưới biển là chuyện “hiếm” thấy (Nhóm Vũ Dung) và “ngược đời” (Nguyễn Cừ) không ? Thưa rằng không ! Bởi vì, bồ nông là loài chim biển. Môi trường kiếm ăn của chúng là các cửa sông, cửa biển, vùng ven biển, biển đảo, các hồ lớn. Chúng không những biết mò biển mà còn lặn biển rất giỏi. Thức ăn của chúng không chỉ là các loài cá mà còn nhiều loại chim biển khác. Nếu gõ tìm trên mạng, chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều bài viết, phim ảnh về chim bồ nông kiếm ăn trên biển. Bởi vậy, “bồ nông dưới biển”hay “bồ nông mò biển” không phải là chuyện “hiếm” hay “ngược đời”.
-Thứ hai, chuyện mẹ chồng nàng dâu:Chúng ta đều biết, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu được dân gian xem là “cuộc xung đột” dai dẳng cả ngàn năm qua. Có nhiều câu tục ngữ đưa ra tổng kết mối quan hệ này như “chân lý khách quan”: Thật thà cũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng; Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt cho mẹ chồng; Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà người ở ưa nhau bao giờ. Con dâu thì phản kháng, “tố” mẹ chồng: Mẹ chồng trồng cây ngược; Muốn nói không làm mẹ chồng mà nói; Bố chồng là lông con phượng, mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi. Mẹ chồng cũng đay nghiến, “tố cáo” nàng dâu: Dâu vô nhà, mụ gia ra ngõ;Bố chồng là lông con lợn hạch, mẹ chồng là đách lợn sề, nàng dâu mới về là bà hoàng hậu. Sự mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng mang tính “truyền kiếp”: Trước học làm dâu sau mới làm mẹ chồng; Chưa học làm dâu đã hay đâu mẹ chồng.
Sống chung một nhà, do mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau nên đôi khi mẹ chồng-nàng dâu phải tạm thời “hòa hoãn” với nhau, “bằng mặt mà không bằng lòng”. Quan hệ tình cảm mẹ chồng-nàng dâu trở thành nhiều “pha” đối phó, “chơi nhau” rất “ngoạn mục” trong tục ngữ: Rau muống tháng chín mẹ chồng nhịn cho nàng dâu ăn, hoặc Rau muống tháng chín nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn (Rau muống là rau của mùa hè, với những cơn mưa rào. Tháng chín bắt đầu trở rét, hanh khô, rau muốn già, chát, ăn không ngon. Thế nên “họ” mới nhường cho “nhau” ăn !).
-Thứ ba, bắt chấy (phương ngữ Thanh Hóa gọi là chí). Cách đây khoảng 20-30-40 năm trở về trước (tuỳ từng điều kiện sống) chí rận ký sinh trên người rất nhiều. Thế nên, trong bài “Nhớ”(1948), Nhà thơ Hồng Nguyên mới viết nên câu thơ “hồn nhiên” và vô cùng âu yếm: “Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa...”.
 Rận sống trong quần áo, chăn màn. Chí sống ký sinh trên đầu, trên tóc. Chí có nhiều loại: chí mẹ, chí con, chí to, chí nhỏ... Con to, đen, gọi là chí đậc (chấy đực), con nhỏ gọi là chí mén (chí mén là loại mới nở, đang “tuổi ăn, tuổi lớn” nên chích hút máu rất hăng, ngứa ngáy vô cùng. Hồi nhỏ trên đầu HTC không thiếu giống này). Lại có cả trứng chí nữa. Trứng chí màu trắng ngà, hình bầu dục, bé tí như hạt cát ở gần chân tóc. Nếu dùng hai móng tay ép lại, không nghe tiếng kêu là trứng lép (trứng chí đã nở). Nếu trứng kêu “bép” nghe căng, giòn là trứng chắc (trứng chí già chưa nở thành con). Thế nên có thành ngữ: Từ trứng chí mén (Từ dạng trứng đến con mới nở, ý nói tất thẩy mọi thứ). 
Cứ có thời gian rảnh rỗi người ta lại bắt rận, bắt chí cho nhau(1). Mẹ bắt chí cho con; con bắt chí cho mẹ; vợ bắt chí cho chồng; chồng bắt chí cho vợ. Chị em, hàng xóm láng giềng, các bà, các chị bắt chí cho nhau. Bắt chí không chỉ là một công việc, mà còn thể hiện tình cảm quan tâm, âu yếm đến nhau. Vừa bắt chí người ta vừa chuyện trò thủ thỉ, rất thân mật, gần gũi. Bắt được con to, con nhỏ gì cũng trầm trồ, xuýt xóa đưa cho nhau xem. Thường đối với con chí to thì dùng hai móng tay giết đi. Nếu là quan hệ thân mật mẹ con, chị em, vợ chồng, bắt được trứng chí, hoặc chí mén dễ lọt tay hoặc lẩn mất, người ta bỏ vào đầu lưỡi rồi lựa, ép vào răng cửa cắn kêu cái “cập” rồi nhổ ra, tỏ vẻ bõ hờn lắm !(2)(Người chồng trong “Sự tích hòn Vọng Phu” cũng do một hôm bắt chí cho vợ nên mới phát hiện ra cái sẹo trên đầu của cô em gái mình thuở nhỏ.)
Chăm chú bắt chấy
Con chí rất nhỏ (đặc biệt là chí mén). Chúng lủi rất nhanh trong rừng chân tóc. Bởi vậy, khi bắt chí, dẫu mồm nói chuyện với nhau, nhưng mặt thì luôn phải cắm cúi, tỉ mẩn, rẽ từng “chân tơ kẽ tóc” thật chăm chú mới bắt được chí và trứng chí. Ấy vậy mà cô con dâu nào đó, “Bắt chấy cho mẹ chồng” mà mắt lại “thấy bồ nông” tận ở “dưới bể” thì còn bắt cái nỗi gì ? !
Như thế, chúng ta có thể hình dung câu chuyện thế này: Tư thế khi bắt chí, người bắt thường ngồi cao hơn ở phía sau. Người được bắt không thể nhìn thấy mặt người bắt chí. Thế là nàng dâu mới có cơ hội lừa mẹ chồng: tay thì giả vờ rẽ tóc, nhưng mắt lại ngóng nhìn tận đẩu tận đâu, nhìn thấy cả những thứ chẳng liên quan gì đến công việc của mình. Đó là sự không thật trong tình cảm của nàng dâu đối với mẹ chồng. Có thể nàng dâu không chủ ý như vậy. Nhưng vì việc bắt chí không xuất phát từ tình cảm thân mật, gần gũi (như người ta vẫn thường thể hiện mỗi khi bắt chí cho nhau) nên cái kiểu “tâm bất tại” nó cứ tự nhiên diễn ra vậy.
Khỉ bắt chấy cho nhau
Trở lại cách giải nghĩa của nhóm Vũ Dung: “Ng. đen: Hiện tượng nàng dâu bắt chấy cho mẹ chồng cũng hiếm như hiện tượng bồ nông dưới biển. Ng.bóng: Quan hệ mẹ chồng nàng dâu ít khi thành thật thương yêu  nhau.” Cách giải thích nghĩa bóng là cách hiểu, cách dùng đúng. Tuy nhiên, cách hiểu nghĩa đen không những sai với thực tế mà còn mâu thuẫn, thiếu lo-gic với nghĩa bóng. Bởi nếu “nàng dâu bắt chấy cho mẹ chồng cũng hiếm như hiện tượng bồ nông dưới biển” thì nghĩa bóng phải là: nàng dâuít khi quan tâm đến mẹ chồng, chứ không phải: “mẹ chồng nàng dâu ít khi thành thật thương yêu  nhau.” Vì ít khi không có nghĩa là không thành thật.
Như vậy, hình thức đúng của câu tục ngữ là: Bắt chấy cho mẹ chồng thấy bồ nông dưới bể (hoặc biển). Ý nói, nàng dâu không thật lòng với mẹ chồng, không chăm chú vào công việc, tay giả vờ bắt chấy, còn mắt thì nhìn đi nơi khác. Con bồ nông dưới biển ở đây chỉ đóng vai trò là hình ảnh, sự vật ở một nơi rất xa, không liên quan chuyện bắt chấy. Vì không hiểu tại sao bắt chấy cho mẹ chồng lại nhìn thấy con bồ nông dưới biển ở trên đầu mẹ chồng nên người ta mới chữa thành: Bắt chấy cho mẹ chồng như bồ nông mò biển(3). Giống như câu: “Vắng chủ nhà gà mọc đuổi tôm” bị sửa thành “Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”mà chúng tôi đã nói đến trong bài "MỌC ĐUÔI TÔM hay VỌC NIÊU TÔM ?"

                                                             HTC-Tháng 7/2014

Chú thích:
(1)-Họ nhà chí rất có ý thức đi tìm vùng đất mới màu mỡ. Bởi vậy, một người không có chí, nhưng ngủ chung giường với người có chí, chẳng cần đầu gối tay ấp gì, sáng ra đã có ngay một đầu những chí là chí. Ngứa ngáy, khó chịu vô cùng !
(2)-Chính HTC từng được Bà rồi Mẹ mình bắt chí cho và giết chí mén, trứng chí theo cách này. Các cụ không thấy ghê, thấy bẩn vì cho rằng chí hút máu người thân thiết ruột thịt của mình, nó cắn mình, thì mình cũng phải giết lại nó theo cách ấy cho bõ hờn, bõ cơn ngứa ngáy. Bởi vậy, tôi ngờ rằng, câu “Con chấy cắn đôi” chỉ quan hệ chị em thân thiết xuất phát từ cách ví von, so sánh việc bắt chí cho nhau, lại xem nhau như ruột thịt, cùng huyết thống, nên đưa con chấy bắt được vào miệng cắn mà không chút ghê sợ. (Các nhà nghiên cứu động vật linh trưởng cho rằng, cử chỉ bắt chấy, rận cho nhau của chúng cũng là cách thể hiện tình cảm trong bầy đàn).
(3)-Nghệ Tĩnh có dị  bản "Bắt chí (chấy) cho mụ gia (mẹ chồng) chộ (thấy) đa đa trên động, hoặc "Bắt chí cho mụ gia, chộ (thấy) ba ba ngoài bể" . Điều này càng có thểm cơ sở để khẳng định cách hiểu "Bắt chấy cho mẹ chồng thấy bồ nông dưới bể" mà chúng tôi đã trình bày.




Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Nguyễn Cừ đã “GIẢI NGHĨA TỤC NGỮ VIỆT NAM” như thế nào ? (phần I)


         Hoàng Tuấn Công

       Chúng tôi có trong tay cuốn “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Cừ khi đang viết dở loạt bài thứ nhất “Dĩ hư truyền hư-Những sai lầm mang tính hệ thống trong từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân” (cuối năm 2013). Lần đầu tiên thấy một cuốn sách có cái tên tự tin, hấp dẫn như vậy nên tôi xem ngay. Tuy nhiên, chỉ 15-20 phút lật giở đã thấy sách có quá nhiều “vấn đề”. Mà những “vấn đề” ấy lại khá giống với GS Nguyễn Lân! 

Ví dụ “Chuyên gia tiếng Việt tại Liên xô, Giám đốc, Tổng biên tập NXB Văn học"-tác giả “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” không phân biệt được thế nào là thành ngữ, thế nào là tục ngữ; thế nào là ngữ danh từ, quán ngữ; giảng sai, hiểu sai thành ngữ, tục ngữ; chép sai văn bản, viết sai chính tả tràn lan,v.v... trong cuốn sách có độ dày gần 500 trang(1).
Xin được trao đổi cùng tác giả và độc giả:
Phần I
KHÔNG PHẢI TỤC NGỮ
Nguyễn Cừ làm sách "Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam" nhưng lại chưa hiểu tục ngữ là gì. Đó là chuyện khó tin nhưng có thật. Xin dẫn chứng:
Ngay phần “Lời giới thiệu”, tác giả "Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam"viết:
 -“...nhìn hình thức bề ngoài thì tục ngữ chỉ là những tập hợp từ có cấu trúc ngôn ngữ bền vững, chặt chẽ, được dùng như lời ăn tiếng nói giao tiếp hàng ngày, rất ngắn gọn, xúc tích, (HTC nhấn mạnh) có vần điệu và nhịp điệu...” (đoạn 1).
- “Tục ngữ là biểu hiện cao nhất của lời ăn tiếng nói của dân tộc Việt Nam, biểu hiện sự sử dụng ngôn từ, vốn từ vựng phong phú của tiếng Việt. Thông qua tục ngữ, tiếng Việt đã phát triển ở một trình độ cao, xứng đáng là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam” (đoạn 2).
Ở đây (đoạn 1) Nguyễn Cừ đã nhận lầm thành ngữ ra tục ngữ. Bởi “những tập hợp từ có cấu trúc ngôn ngữ bền vững, chặt chẽ...” là đặc điểm hình thức của thành ngữ chứ không phải tục ngữ. Về (đoạn 2) khi Nguyễn Cừ nói đến “biểu hiện sự sử dụng ngôn từ, vốn từ vựng phong phú của tiếng Việt”, rồi “tiếng Việt đã phát triển ở một trình độ cao, xứng đáng là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam” chính là nói đến “hiện tượng ngôn ngữ” của thành ngữ mà các nhà nghiên cứu đã thống nhất, chứ không phải là “hiện tượng ý thức xã hội” của tục ngữ. Xin được nói rõ hơn:
Về hình thức: tục ngữ là một câu, dù ngắn đến đâu cũng diễn tả một ý trọn vẹn; thành ngữ chưa phải là một câu mà chỉ là một phần câu, một tập hợp từ bền vững. Về nội dung: tục ngữ là kinh nghiệm, tri thức được diễn đạt theo lối khẳng định, tổng kết quy luật, chân lý của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội; còn thành ngữ mới chỉ dừng ở mức độ so sánh, ví von, nhận xét, diễn đạt một cách hình ảnh về sự vật, hiện tượng nào đó mà thôi(2).
Bởi vậy, trong tục ngữ có thành ngữ, nhưng trong thành ngữ không có tục ngữ. Nói cách khác, thành ngữ là một tập hợp từgợi tả, giàu hình ảnh (thường dùng phép so sánh) mà (đôi khi) tục ngữ, ca dao lấy làm chất liệu để cấu thành chứ không phải chính là tục ngữ. Nếu thành ngữ giống như cái túi áo trên ngực áo, thì tục ngữ là cả cái áo. Cái túi áo chỉ làm phong phú thêm chức năng và góp phần tô điểm cho cái áo chứ không phải là chính cái áo. Ví dụ, trong câu tục ngữ: “Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó”, thì “như thài lài gặp cứt chó” là thành ngữ nằm trong tục ngữ. Hoặc “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, “như kiến thấy mỡ” là thành ngữ; “Rẻ như bèo nhiều heo cũng hết”, “rẻ như bèo” là thành ngữ; “Đẹp như tiên, lo phiền cũng xấu”, “đẹp như tiên” là thành ngữ, được tục ngữ dùng làm văn liệu, trở thành một phần trong câu tục ngữ. Hoặc câu ca dao: “Chẳng tham ruộng cả ảo liền, Tham vì cái bút, cái nghiên ông đồ” thì “Ruộng cả, ao liền” là thành ngữ được ca dao lấy làm văn liệu.
Về cách dùng: khi vận dụng tục ngữ vào lời ăn tiếng nói, người ta muốn tăng thêm sức thuyết phục cho lời nói của mình, qua đó chứng minh, khẳng định một kinh nghiệm, một quy luật nào đó đã được tổng kết, đúc rút một cách chắc chắn. Ví dụ, khi nói: “Quá trưa sang chiều trời sẽ tạnh cho mà xem” sẽ không thuyết phục bằng cách nói vận dụng thêm câu tục ngữ: “Quá trưa sang chiều trời sẽ tạnh, vì Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi mà !”. Trong đó, Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi là một đúc kết, một kinh nghiệm, sự khẳng định dựa trên quy luật thời tiết của nhân dân. Còn khi vận dụng thành ngữ, người ta chỉ có thể làm cho lời nói của mình hay hơn, giàu hình ảnh, hấp dẫn hơn mà thôi. Ví dụ, thay vì nói: “Buổi sáng trời mưa tầm tã”, người ta nói: “Buổi sáng trời mưa như trút nước”. Câu nói thứ hai hay hơn, giàu hình ảnh hơn vì đã vận dụng thành ngữ “Mưa như trút nước”. Tuy nhiên, “Mưa như trút nước” hoàn toàn không phải là tri thức, là kinh nghiệm hay quy luật của tự nhiên. Hoặc thay vì nói: “Người anh hôi lắm”, ta nói: “Người anh hôi như cú ấy”; Thay vì nói: “Anh đi chậm quá” ta nói: “Anh đi chậm như rùaấy”. Thì “Hôi như cú” (hoặc Hôi như tổ cú), “Chậm như rùa” là những thành ngữ mà khi ta vận dụng sẽ khiến lời nói, câu viết giàu hình ảnh hơn cách nói thông thường. Bản thân “hôi như cú”, “chậm như rùa” không phải là một đúc kết, kinh nghiệm (đặc trưng của nội dung tục ngữ), mà chỉ là nhận xét, so sánh, phán đoán (đặc trưng nội dung thành ngữ). Bởi vì rùa không phải là chậm nhất (thế nên còn nói Chậm như sên), cú không phải là hôi nhất (mà chắc gì cú đã hôi ? Chẳng qua cú ăn thịt những con vật bẩn thỉu như chuột bọ, côn trùng, hình thức lại xấu xí nên người ta cảm tưởng như vậy. Người viết bài này từng tiếp xúc với cú muỗi, cú vọ, thấy chúng không hề hôi tí nào. Ngược lại chúng sạch sẽ như rất nhiều loài chim khác). Hay câu thành ngữ “Xấu như ma”, có ai trông thấy ma bao giờ đâu mà biết nó xấu hay đẹp ? Rõ ràng, sự bóng bẩy trong diễn đạt, tính phán đoán, tính tương đối trong nội dung của thành ngữ rất khác so với sự chuẩn mực, khoa học, tri thức qua lối diễn đạt mang tính khẳng định của tục ngữ.
Do nhận lầm thành ngữ ra tục ngữ nên trong "Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam" chủ yếu Nguyễn Cừ tập hợp các đơn vị thành ngữ là chính. Chúng tôi không thể nhặt hết số thành ngữ này mà chỉ nêu ra làm ví dụ:
Cả nhà, cả ổ; Bạc tình, bạc nghĩa; Công chúa phải gai mồng tơi; Tai to, mặt lớn; Tan xương, nát thịt; Sưu cao, thuế nặng; Tác oai, tác quái; Quyền sinh, quyền sát; Quan cao lộc hậu; Quân sư quạt mo; Đứng núi này trông núi nọ; Kén cá, chọn canh; Liễu chán hoa chê; Kiễu ép, nài hoa. Nam thanh nữ tú; Phận bạc như vôi; Tài tử giai nhân; Trâm gãy bình rơi; Bán sấp, bán ngửa; Hòa cả làng; Hoa trôi, bèo dạt; Rồng đến nhà tôm; Rừng thiêng, nước độc; Ruộng cả ao liền; Trêu hoa, ghẹo nguyệt; Trên bến, dưới thuyền; Trên đe, dưới búa; Trơn lông, đỏ da; Ăn bớt, ăn xén; Ăn chẳng bõ dính răng; Ăn chẳng bõ nói; Ăn đậu ở nhở; Ăn hương ăn hoa; Anh hùng lỡ vận; Anh hùng mạt lộ; Bé xé ra to; Chán đến mang tai; Chán ngắt, chán ngơ; Châu chấu đá voi; Chết cay, chết đắng; Chưa ăn đã lo đói; Chung lưng, đấu cật; Cổ cày vai bừa; Có nếp, có tẻ; Của chìm của nổi; Đa sầu đa cảm...
Thậm chí, dạng thành ngữ rất dễ nhận biết, với cấu trúc có liên từ “như” vẫn được Nguyễn Cừ “tuyển” vào sách “giải thích tục ngữ” rất nhiều. Ví dụ:
Da như trứng gà bóc; Da trắng như ngà voi; Mê như điếu đổ; Tóc mây, mày nguyệt; Trơ như đá, vững như đồng; Xấu như ma; Xấu như dạ xoa; Xấu như cú; Xấu như ma lem; Xấu như quỷ; Xấu như ma mút. Câm như thóc trầm ba mùa. Chậm như rùa; Chậm như sên; Yếu như sên. Dại như vích; Dày như mo cau; Gắt như mắm tôm; Giấu như mèo giất cứt; Chắc như cua gạch; Chán như cơm nếp nát; Dai như đỉa đói; Nợ như chúa Chổm; Oai oái như phủ Khoái xin cơm; Chắc như đinh đóng cột; Chạy như đèn cù; Chạy như cờ lông công; Chạy như chạy loạn; Chết đuối vớ được cọc (nói gọn từ: Như chết đuối vớ được cọc-HTC) Chết mê, chết mệt; Chở củi về rừng (nói tắt của: Như chở củi về rừng-HTC) Dễ như trở bàn tay,v.v...
Như vậy, trên đây chúng ta thấy Nguyễn Cừ đã sai lầm khi đem khái niệm thành ngữ để định nghĩa cho tục ngữ, và đem tiêu chí thành ngữ để lựa chọn “tục ngữ”. Làm thế khác nào muốn đi chọn mua một đàn cừu nhưng lại căn cứ vào mô tả về con dê để mua ? Cách làm trái khoáy này của Nguyễn Cừ khiến sách giới hạn “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” nhưng thực tế nội dung lại có cả thành ngữ lẫn tục ngữ. Thậm chí số lượng thành ngữ nhiều hơn tục ngữ. (Với GS Nguyễn Lân, chúng ta không biết Nhà biên soạn từ điển có phân biệt được thành ngữ với tục ngữ hay không. Vì sách “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” sưu tầm và trộn lẫn cả hai loại này theo vần ABC).
Tuy nhiên, “vấn đề” không chỉ dừng ở đó. Xác định sách chỉ “giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” và trong lời giới thiệu, Nguyễn Cừ cũng đưa ra định nghĩa để làm tiêu chí tuyển chọn “tục ngữ”. Tuy nhiên, phần cuối lời giới thiệu, tác giả lại bất ngờ tuyên bố: “Một điều dễ nhận thấy trong cuốn sách này là có nhiều câu thành ngữ, thậm chí cả ca dao cũng được đưa vào, mong bạn đọc thông cảm và hiểu cho rằng,tục ngữ và thành ngữ có nhiều nét giống nhau ở cả hình thức cấu tạo và nội dung. Nếu tục ngữ là những câu ngắn gọn, có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống về tự nhiên, xã hội thì thành ngữ cũng là tập hợp từ cố định dùng quen hàng ngày có vần, có ngắt nhịp cũng mang nội dung xã hội, đạo lý, đạo đức.” (HTC nhấn mạnh)
Phải chăng, Nguyễn Cừ không chắc chắc những đơn vị tục ngữ được tuyển vào "Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam" là thuần tục ngữ nên đã "gài" vào những câu như vậy ? Qua đó, xóa nhòa đi ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa tục ngữ và ca dao ?
Như vậy, đọc những gì Nguyễn Cừ viết, chúng ta thấy rõ: tác giả lẫn lộn lung tung khái niệm thành ngữ, tục ngữ, cuối cùng đánh đồng tục ngữ với thành ngữ là một. (Đó là cách hiểu thành ngữ, tục ngữ theo lối sơ khai của một vài người các đây ngót trăm năm !) (3)
Với độc giả, việc lẫn lộn hoặc không phân biệt được thành ngữ với tục ngữ là chuyện thường. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, hoặc người đã có thể vững tin cầm bút viết nên sách “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” lại là điều đáng ngạc nhiên.
Xem “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam”, chúng ta từ ngạc nhiên chuyển sang kinh ngạc. Bởi Nguyễn Cừ đã “tuyển” rất nhiều những đơn vị không phải thành ngữ, cũng chẳng phải tục ngữ. Những ví dụ sau đây chỉ là cụm từ đơn thuần, ngữ danh từ, câu đố hoặc từ láy:
Uốn a uốn éo; Õng à õng ẹo; Đú đa đú đởn; Lép ba, lép bép; Lệt bà lệt bệt; Núng na núng nính; Thưa thưa bẩm bẩm; Bỏ vật, bỏ vạ; Chán ngấm, chán ngẩm; Ngẩn ngẩn ngơ ngơ; Chán chê, mê mỏi; Da trắng, tóc dài; La lối om sòm; Làm tình làm tội; Anh em đường ai nấy đi; Cao tằng tổ khảo; Thờ chồng, nuôi con; Con dì, con già; La làng la xóm; Khai quốc công thần, Sách gối, đầu giường; Làm duyên, làm dáng; Nạp thái vu quy; Làm nũng, làm nịu; Lòng xuân phơi phới; Chó huyền đề; Cổ cao ba ngấn; Tam tòng, tứ đức; Má lúm đồng tiền; Thắt đáy lưng ong; Tuần trăng mật; Chín tháng mười ngày; Trong quan; ngoài quách; Nơi chôn nhau, cắt rốn; Nói chuyện đường dài; Núi Tản, sông Đà; Nói chuyện tầm phào; Mưa bóng mây; Con đóng khố, bố cởi truồng (đây là câu đố về cây măng, cây tre-HTC) Long, ly, quy, phượng; Rét nàng Bân; Tăng gia sản xuất; Ái nam, ái nữ; Cạo đầu đi tu; Ăn canh rau má; Ăn cho sướng miệng; Ăn được, ngủ được; Bưng cơm, rót nước; Bớt mồm, bớt miệng; Chán ngắt, chán ngơ; Cấu xé lẫn nhau; Có chừng, có mực; Cạy răng không nói; ...
Sai lầm trên đây của Nguyễn Cừ chính là sai lầm mà GS Nguyễn Lân từng mắc trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam...(Chúng tôi từng nêu trong loạt bài Những sai lầm mang tính hệ thống trong Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân) Nguyên nhân của sai lầm này không gì khác ngoài việc tác giả không nhận diện được thành ngữ, tục ngữ, không biết đích xác thành ngữ tục ngữ là gì. Với Nguyễn Cừ, điều này càng được khẳng định bởi có những câu chỉ là cách nói vui thời hiện đại, ghán ghép kiểu đầu Ngô mình Sở, hoặc cùng lắm là câu hát đồng dao, ca dao cười: Làm trai cho đáng nên trai, Pari cũng tới, Ha-Oai cũng từng; Tình yêu chớp bể mưa nguồn, Em châu chấu đá anh chuồn chuồn bay; Yểu điệu thục nữ, quân tử mê ly, Băm bầu, băm bí, băm chị thằng Ngô, băm cô bán dầu, cô bán cho tao, mấy tiền một lít...cũng được Nguyễn Cừ “tuyển” vào làm “tục ngữ Việt Nam” !
 "Tục ngữ Việt Nam" là như vậy sao ?
Mặt khác, chuyện phân loại “tục ngữ” của Nguyễn Cừ cũng thuộc diện “vô tiền khoáng hậu”. Đó là chia thành ngữ, tục ngữ thành loại có 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ... rồi cứ thế phân tách cấu trúc bằng dấu phẩy một cách máy móc, tạo ra những hình thức thành ngữ, tục ngữ “chẳng giống ai”. Bởi vậy, đọc những câu "thành ngữ, tục ngữ" kiểu này của Nguyễn Cừ, người ta có cảm tưởng như mình đang hăm hở bước tới, bỗng đâu có kẻ chơi xỏ, bất ngờ ngáng chân lại. Ví dụ:
Đường ở, cửa miệng; Con gái, là cái bòn; Lụt thì lút, cả làng; Có bột mới, gột nên hồ; Dốt đặc, cán mai; Của đi, thay người; Của bền, tại người. Dạy bà lang, bốc thuốc; Mắc bẫy, cò ke; Mạnh ai, nấy được; Nuôi ong, tay áo; Trông gà, hóa cuốc; Trứng khôn, hơn vịt; Vua thua, thằng liều; Cá nằm, trên thớt; Châu chấu, đá xe; Coi trời,bằng vung; Phú quý, giật lùi; Đò nát, đụng nhau; Chó ngáp; phải ruồi; Chở củi; về rừng; Gửi trứng, cho ác; Giơ đầu, chịu báng; Nối dáo, cho giặc; Sách gối, đầu giường; Thay ngựa, giữa dòng; Con gà, tức nhau tiếng gáy; Cú kêu, ra ma; Tầm gửi, lấn cành; Bán hàng, chiều khách; Đàn gảy, tai trâu; Nước chảy, chỗ trũng; Cầm dao, đằng lưỡi; Cầm gậy, chọc trời; Câu chuyện, làm quà; Cố đấm, ăn xôi; Của đi, thay người, Áo gấm, đi đêm; Áo gấm, về làng; Ngựa quen, đường cũ; Sắc nanh chuột, cắn được cổ mèo, Dạy bà lang, bốc thuốc; Gái đĩ, già mồm; Hai tay nuôi, một lỗ miệng; Mắc bẫy, cò ke; Mặt nặng, như đá đeo; Vua thua, thằng liều, Chọc gậy, xuống nước v.v...
Những câu chúng tôi vừa liệt kê trên đây cũng phần lớn là thành ngữ chứ không phải tục ngữ (Câu có gạch chân là tục ngữ). Thực tế cho thấy, Nguyễn Cừ không phân biệt được loại thành ngữ, tục ngữ 4 chữ, chia làm hai vế, có quan hệ đối sánh kiểu: Trên bến, dưới thuyền; Lên voi, xuống chó; Vịt già, gà tơ... hoàn toàn khác với loại 4 chữ chỉ là cụm từ diễn xuôi theo trật tự của câu kể đơn thuần: Cầm dao đằng lưỡi; Câu chuyện làm quà ? Thế nên các câu thành ngữ này qua tay Nguyễn Cừ mới biến thành: Cầm dao, đằng lưỡi; Câu chuyện, làm quà...Hoặc đối với câu 5 chữ Lụt thì lút cả làng” lại được viết thành: “Lụt thì lút, cả làng” !
Vậy, những sai lầm của Nguyễn Cừ mà chúng tôi kể trên nói lên điều gì ? Có ảnh hưởng gì đến cách hiểu tục ngữ, thành ngữ hay không ? Thưa rằng có. Từ chỗ nhận lầm tục ngữ ra thành ngữ, không phân biệt được thành ngữ, tục ngữ với ngữ danh từ; từ láy; quán ngữ; cụm từ đơn thuần; không xác định được cấu trúc câu thành ngữ, tục ngữ, Nguyễn Cừ đã đi đến thất bại trong “giải nghĩa tục ngữ Việt Nam”. Đó cũng chính là nội dung cơ bản, đáng kể nhất chúng tôi sẽ nói đến trong phần II “Nguyễn Cừ đã “giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” như thế nào ?”(3)  
                                                                        HTC
Chú thích:
(1) Sách “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” Nguyễn Cừ-NXB Văn học-2012 . Bìa trong cuốn sách, tác giả cho biết thêm: “Nguyễn Cừ (Nguyễn Văn Cừ) Bộ đội, Khoa Văn-Đại học Tồng hợp khóa 17, chuyên gia tiếng Việt tại Liên Xô, đã công tác tại NXB Khoa học xã hội, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng biên tập NXB Văn học”. Bìa 3, Nguyễn Cừ cũng cho biết, ông là tác giả và đồng tác giả của 11 cuốn sách khảo cứu, sưu tầm, biên soạn, tuyển chọn khác. Như “Tục ngữ Việt Nam” (Nguyễn Cừ-NXB Văn học-2008) “Tuyển tập tục ngữ-ca dao Việt Nam”(Nguyễn Cừ-NXB Văn học) “Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam” (Nguyễn Cừ-in chung NXB Giáo dục), “Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam” (Nguyễn Cừ-NXB Văn học) “Truyện cười Việt Nam hiện đại” (Nguyễn Cừ-NXB Văn học) v.v...
(2) Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã thống nhất về cơ bản trong việc phân biệt thành ngữ, tục ngữ. Về hình thức, tục ngữ là:
- “một câu tự nó đã diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm...”, còn “thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn tả được một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh...” (theo Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam-Vũ Ngọc Phan-1977).
-“Có thể nói, nội dung của thành ngữ manh tính hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói...Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn. Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” (Nguyễn Văn Mệnh-Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1972-dẫn theo Tục ngữ Việt Nam-Chu Xuân Diên-Lương Văn Đang-Phương Tri-NXB Khoa học xã hội-1975)
- Thành ngữ là: “tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích một cách đơn giản bằng nghĩa của từ tạo nên” (theo Từ điển Tiếng Việt-Hoàng Phê).
(2) Tiêu biểu cho quan niệm này là Nguyễn Văn Tố, trong bài “Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây”, đã đồng nghĩa về mặt thuật ngữ khi nói về thành ngữ, tục ngữ. Ông viết: “Tục ngữ là câu thành ngữ nói đã quen, trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa, câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn. Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn, thì nghĩa cũng gần giống nhau...” (Dẫn theo Tục ngữ Việt Nam- Nhóm Chu Xuân Diên).
-Sách "Từ điển tục ngữ Việt" của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương làm khá tốt việc nhận diện tục ngữ. Theo Nguyễn Đức Dương, tác giả đã vận dụng phương pháp nhận diện tục ngữ của Cao Xuân Hạo. Tuy nhiên việc nhận diện đúng tục ngữ chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để đảm bảo việc giải thích sẽ chính xác. Bạn đọc có thể tham khảo bài phê bình cuốn "Từ điển tục ngữ Việt" tại đường link: AI LÀM HỎNG “DI SẢN TỤC NGỮ” ?
(3) Sách “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” do anh Lê Thanh Thảo-Công ty thuốc BVTV Trung ương I tại Thanh Hóa đem đến giới thiệu và cho chúng tôi mượn đọc trong nửa năm qua. Nhân đây xin được cảm ơn Anh và mong Anh thông cảm việc mượn sách lâu đến vậy.

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

MỌC ĐUÔI TÔM hay VỌC NIÊU TÔM ?

Gà giai đoạn mọc đuôi tôm.

      Hoàng Tuấn Công

Câu tục ngữ Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tômkhông xa lạ gì với người Việt Nam. Trong khi hầu hết mọi người đều hiểu đúng, dùng đúng theo nghĩa bóng thì nghĩa đen của nó lại làm tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu.
 Cái đuôi tôm của con gà liên quan gì đến ông chủ mà khiến nó phải đợi “vắng chủ nhà” mới “mọc” ra ? Sự vô lý ngự trị câu tục ngữ khiến người ta nghi ngờ tính chính xác của văn bản.
Một số nhà nghiên cứu đã tìm hướng giải quyết bằng cách thay đổi hình thức của câu tục ngữ: Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, sục niêu tôm hoặc vọc niêu cơm để nghe cho có lý:
- “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam”,nhóm Vũ Dung giải thích: “Vắng chủ nhà gà sục niêu tôm. x. Vắng chúa nhà gà vọc niêu tôm (vọc: thò tay, chân vào vào quấy, bới) không người cai quản, dễ làm bậy, tha hồ tự do thoải  mái; Không người cầm chịch, quản lý, mọi việc đều lộn xộn lung tung”.
-“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” GS Nguyễn Lân viết: “Chúa vắng nhà gà vọc niêu tôm (hoặc gà mọc đuôi tôm) Chê những kẻ làm liều khi không có người cai quản”.
-“Từ điển tục ngữ Việt” của Nguyễn Đức Dương sau khi đưa ra bản: "Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”, đã hướng dẫn xem “Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm” và chú thích:"Chắc là vọc niêu chứ chẳng phải mọc đuôi, nhưng đã bị chép lầm".
-“Thành ngữ tục ngữ lược giải” của Nguyễn Trần Trụ: “Vắng chúa nhà gà vọc niêu tôm: Chủ nhà đi vắng thì việc trông coi cửa nhà sơ sót khiến cho gà vào tận trong nhà vọ niêu tôm mà ăn. Ý nói chủ nhà đi vắng thì đầy tớ, người trong nhà làm càn, phá phách”.
-Trong “Tục ngữ Việt Nam” nhóm Chu Xuân Diên ghi nhận cả hai dị  bản: “Vắng chúa nhà, gà vọc niêu tôm (hoặc mọc đuôi tôm)”. Vì sách chỉ sưu tầm, tập hợp nên nhóm biên soạn không giải thích ý nghĩa câu tục ngữ. Tuy nhiên, căn cứ việc sách ghi nhận cả “mọc đuôi tôm” và “vọc niêu tôm”, chúng ta cũng có thể đoán biết nhóm tác giả “Tục ngữ Việt Nam” cũng chưa có cách giải thích nào chính xác.
Nhìn chung, trong khi chưa tìm được lời giải cho "mọc đuôi tôm" thì lối thoát "vọc niêu tôm" hoặc “vọc niêu cơm” có thể tạm chấp nhận được. Và thực tế, các nhà ngữ học gần như đã thống nhất với dị bản và cách giải thích này.
Tuy nhiên hướng "vọc niêu tôm" hay “vọc niêu cơm” suy cho kỹ sẽ thấy không ổn. Bởi tôm đã kho trong niêu không phải là thứ mồi gà ưa thích hoặc thường tìm ăn. Vả lại, thông thường đối với những đồ ăn thức uống, người ta chỉ khuyên "Chó treo, mèo đậy" chứ không đề phòng gà qué. Mở nắp vung, nắp xoong hoàn toàn không phải sở trường của loài gia cầm. Nếu có, chỉ là tình cờ chúng nhảy lên rồi làm đổ, lật úp nồi niêu xuống đất mà thôi. Còn đối với dị bản niêu cơm cũng vậy. Nếu con gà đã làm bật được nắp niêu cơm ra, nó không bao giờ dừng lại ở chuyện “vọc” mà mổ ăn thực sự, ăn cho bằng hết, bằng không cũng canh cho tung tóe. Trong khi chữ vọc lại hoàn toàn không hợp với động tác của mỏ hoặc chân con gà. Người ta chỉ nói chuột vọc, nghĩa là chuột dùng chân hoặc răng nhấm thử, có khi không ăn mà chỉ làm mất dấu đĩa thức ăn. (Việt Nam tự điển: “Vọc: vầy, mó: vọc tay vào, vọc bùn, đồ ma vọc. Văn liệu: Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, Hoài hạt ngọc cho ngâu vầy) Từ “vọc” mà Vũ Dung giải thích cho động tác của gà: “thò tay, chân vào vào quấy, bới” là khiên cưỡng).
Vậy bây giờ phải hiểu như thế nào ? Chúng tôi cho rằng, hình thức đúng của câu tục ngữ vẫn là “Vắng chủ nhà; gà mọc đuôi tôm”. Hướng này cũng đã từng có người tính đến, nhưng không chứng minh được.
Gà con giai đoạn theo mẹ, chưa hề có lông đuôi.
Trước tiên, chúng ta phải đi tìm nghĩa đen. Xưa kia nông dân thường nuôi gà ổ. Gà mẹ đẻ được khoảng chừng mươi mười lăm trứng thì ấp. Sau khi nở, gà con theo mẹ kiếm ăn. Khoảng thời gian này, mẹ gà chăm sóc đàn con rất cẩn thận. Nó sẵn sàng liều mình chống lại những mối đe dọa như chó, mèo, rắn rết, diều hâu, quạ...để bảo vệ đàn con. Đây cũng là thời gian mẹ đưa con đi kiếm ăn, dạy cho gà con biết cách tìm mồi, cách nhận biết những mối nguy hiểm. Mẹ gà vừa bới đất cho đàn con tìm mồi vừa nghe ngóng. Nếu thấy nguy hiểm, lập tức gà mẹ phát tín hiệu qu..ac..qu...ac hồi dài báo động rồi tục...tục "thu quân". Đàn gà con dù đang mải mê ở đâu nghe tiếng cũng chạy vội, chui hết vào đôi cánh gà mẹ. Nếu lỡ chú gà con nào lạc mẹ thì nháo nhác cất tiếng kêu chiếp....chiếp liên hồi thảm thiết, chừng nào tìm được mẹ mới thôi. (Có câu thành ngữ Nháo nhác như gà lạc mẹ). 
Gà mọc đuôi tôm không còn đi ăn với gà mẹ nữa
Khoảng hơn một tháng sau, lông cánh gà con phát triển đã phủ gần kín hai bên hông. Cái đuôi nhú lên tí xíu hôm trước nay cũng đã dài, chìa ra, khum khum như cái đuôi tôm. Khi gà con mọc đuôi tôm cũng là lúc theo bản năng gà mẹ xua đuổi, bắt đàn con phải tự lập để gà mẹ chuẩn bị bước vào lứa sinh đẻ mới. Nếu những chú gà con vì thói quen vẫn chạy theo, liền bị  mẹ gà đánh đuổi, mổ thật lực, kêu choe chóe. Trước kia, gà mẹ săn sóc, bảo vệ đàn con bao nhiêu thì bây giờ nó dửng dưng, vô tình bấy nhiêu. Thế là anh em nhà gà con bắt đầu cuộc sống tự lập: đi kiếm ăn mà không có gà mẹ theo kèm.
Gà mọc đuôi tôm đi ăn theo bầy.
Sau vài ngày đầu chạy nháo nhác, đàn gà con bắt đầu mạnh dạn hơn và vẫn giữ thói quen đi ăn theo bầy. Chúng rất hiếu động. Cả bầy chui luồn mọi xó xỉnh, hết ngoài vườn đến trong nhà; từ gầm giường, xó tủ đến bồ thóc, thúng gạo đều bị chúng bới móc. Chúng vừa chạy nhảy vừa kêu chiêm chiếp, ăn một phá phách mười, làm cho mọi thứ đảo lộn tứ tung lên. Ăn, chơi chán thì chúng quay ra đánh chọi nhau chí chóe. Có những đôi chọi nhau chí tử. Câu "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau" chính là nói gà con thời kỳ này (Chỉ có thời kỳ theo mẹ và mới tách mẹ, đi ăn theo bầy thì người ta mới xác định chúng là gà cùng một mẹ). Như vậy lũ trẻ con khi vắng chủ nhà, vắng bố mẹ và gà mọc đuôi tôm, gà mới tách mẹđều có điểm giống nhau đó là: nghịch ngợm, phá phách, tha hồ trêu chọc, đánh đấm nhau mà không bị ai trách mắng hay cai quản. Đây cũng là nhận thức tâm lý bọn trẻ và lũ gà con theo kinh nghiệm của dân gian.
Ngoài nghĩa đen, chìa khóa để giải mã câu nói của dân gian là phải xác định lại cấu trúc câu tục ngữ. Ở đây là mối quan hệ giữa hai vế. Từ trước tới nay, câu “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”, được hiểu có mối quan hệ nhân quả theo kiểu: “Vắng chủ nhà, gà bới bếp”. Nay chúng ta vẫn chia làm hai vế, nhưng đặt trong mối quan hệ đối xứng, so sánh: vắng chủ nhàcũng giống như gà mọc đuôi tôm. Tuy nhiên, có người sẽ thắc mắc: “vắng chủ nhà” (trạng từ) sao có thể đối với “mọc đuôi tôm” (động từ) được ? Câu trả lời: trong “mọc đuôi tôm”, thì “mọc” đây không phải là động từ mà được hiểu là trạng từ. Đây là kết cấu theo kiểu: "Cơm chín tới, cải vòng (ngồng-ngòng)  non, gái một con, gà nhảy ổ đẻ". Cũng như “gà mọc đuôi tôm” (cách gọi tắt gà ở giai đoạn mọc đuôi tôm), cụm từ “gà nhảy ổ đẻ” (cách nói tắt gà ở giai đoạn nhảy ổ đẻ) không được hiểu là động từ mà là ngữ danh từ, trong đó có sự kết hợp giữa trạng từ + danh từ + tính từ: Lúc cơm chín tới (ngon nhất) Thời điểm cải vòng non (ngon nhất), Thời gái một con (đẹp nhất), Lúc gà nhảy ổ đẻ (ngon nhất). Bởi vậy, “gà nhảy ổ đẻ” hoàn toàn có thể đặt trong mối quan hệ đối sánh, tương ứng với cơm chín tới, cải vòng non, gái một con. Cũng như “gà mọc đuôi tôm” (gà con không còn có mẹ che chở, đưa đi kiếm ăn) có mối quan hệ “bình đẳng” với “vắng chủ nhà” (lũ trẻ không có bố mẹ cai quản). Ấy chính là những giai đoạn đặc biệt của các sự vật, hiện tượng được tục ngữ đặt cạnh nhau để dùng cái này liên tưởng, so sánh với cái kia.
Quay trở lại câu tục ngữ đang bàn. Căn cứ đặc điểm sinh trưởng của gà, dân gian dùng hình ảnh cái đuôi tôm của gà con để chỉ (mô tả, đánh dấu) một giai đoạn phát triển quan trọng của nó. Gà “mọc đuôi tôm” nghĩa là gà ở giai đoạn có (đã ra) đuôi tôm. Sau giai đoạn mọc đuôi tôm, đến thời kỳ trưởng thành, gọi là “gà gại đẻ” hoặc “gà chịu trống” (ở gà mái) và “biết đạp mái” (ở gà trống). Với vịt con, tương đương giai đoạn “mọc đuôi tôm” ở gà, được gọi là “vịt ra hoa vai”-tức vịt con đã mọc hai bên đầu cánh túm lông vũ đầu tiên. Khi vịt trưởng thành gọi là “vịt chéo cánh” nghĩa là hai cánh mọc dài, phân đuôi cánh đã bắt chéo vào nhau). Gà mọc đuôi tôm và vịt ra hoa vai đánh dấu một giai đoạn phát triển mới  vì chúng đã qua giai đoạn yếu ớt, bắt đầu tự lập, sinh trưởng nhanh. Giai đoạn gà con “mọc đuôi tôm” cũng là lúc gà mẹ “bỏ con”, không nuôi con nữa (theo cách gọi của dân gian). Chúng ta có mối liên hệ: Gà mẹ bỏ con là lúc gà con mọc đuôi tôm; gà con mọc đuôi tôm là lúc đi kiếm ăn một mình, không có mẹ dẫn dắt, che chở nữa.
 Như vậy khi chia câu tục ngữ làm hai vế có liên từ so sánh, ta có diễn giải: Tình trạng vắng chủ nhà (thì cũng giống như) gà vắng mẹ (tức giai đoạn mọc đuôi tôm). Hai vế này nói về hai trạng huống mang tính so sánh, nhằm chỉ một giai đoạn, một khoảng thời gian đặc biệt: Nhà vắng chủ, không ai cai quản, giám sát, chính là lúc lũ trẻ con (rủ thêm bạn bè đến) thả sức phá phách, bầy trò nghịch ngợm, có khi gây gổ đánh nhau làm đảo lộn lung tung lên; gà mọc đuôi tôm cũng là khoảng thời gian đặc biệt, không có gà mẹ dẫn dắt, nên cái sự phát phách, đá lộn nhau của chúng cũng chẳng khác nào lũ trẻ vắng chủ nhà kia (cách so sánh này giống "Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò", chỉ khác là không được "xếp hạng")

Như vậy, “gà mọc đuôi tôm” chỉ thời kỳ gà con vừa mới lớn, không còn sự che chở, cai quản của gà mẹ, chứ không phải “mọc” (động từ chỉ cái đuôi dài ra). Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm là: Trẻ con phá phách nghịch ngợm nhất là lúc vắng chủ nhà; gà con hiếu động, quấy phá nhất là lúc mọc đuôi tôm, không còn có sự dẫn dắt của gà mẹ. Về sau, câu tục ngữ được hiểu theo nghĩa rộng hơn, nhằm ám chỉ tất cả những trường hợp không có sự hiện diện của người đứng đầu chịu trách nhiệm về công việc nào đó./.
                                                                       HTC