Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

AI LÀM HỎNG “DI SẢN TỤC NGỮ” ?

Hay là những sai lầm của Nhà ngữ học
Nguyễn Đức Dương trong Từ điển tục ngữ Việt
                                          Hoàng Tuấn Công                         
Trong bài “Giới 8X, 9X với di sản tục ngữ” trên báo Lao động cuối tuần (số 10-8/3/2013) Nhà ngữ học, TS Nguyễn Đức Dương viết: “Không ít ý kiến cho rằng giới trẻ ở độ tuổi 8X, 9X ngày nay đang quá thờ ơ với tục ngữ [TN]. Một cô giáo dạy văn ở THCS tôi quen đã không chia sẻ nhận định ấy, mà thậm chí còn gay gắt bác lại. Theo cô, các em chỉ thờ ơ khi chưa thấu hiểu nội dung thôi, chứ một khi đã nắm được rồi, các em còn tỏ ra thích thú là đằng khác”.
Thế rồi, được sự giúp đỡ của cô giáo nọ, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã làm một cuộc trắc nghiệm thú vị: Đưa ra 10 câu tục ngữ, mỗi câu kèm 2 cách giải thích trong 2 cuốn sách để các em chọn “thích” hoặc “không thích”: một cách giải thích trong Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân (NXB Văn Hóa - 1989); một của chính Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương (trong Từ điển tục ngữ Việt-NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh-2012). Kết quả (theo bài báo): cách giảng giải của Nguyễn Đức Dương được các em học sinh đánh dấu “thích” chiếm tỉ lệ áp đảo so với GS Nguyễn Lân. Nguyễn Đức Dương (NĐD) đi đến kết luận: “Nhận xét cuối cùng xin để bạn đọc tự đưa ra. Riêng về phần mình, chúng tôi chỉ có một nhận xét nhỏ: Làm cho nội dung của các đơn vị tục ngữ vốn vô giá của chúng ta sai lệch đi tới mức ấy thì ít người ưa và lắm người ghét âu cũng là chuyện thường. Chẳng phải vô cớ mà người xưa hay dặn: “Tiên trách kỷ; hậu trách nhân” (Nên tự trách mình trước khi trách người)”.Việc làm trên của TS Nguyễn Đức Dương thể hiện tâm huyết, trách nhiệm cao của một Nhà ngữ học lão thành đối với thế hệ trẻ. Nhưng tiếc thay, chính ông lại quên mất lời “người xưa hay dặn”. Bởi GS Nguyễn Lân giải thích sai đã đành, đến lượt mình, Nguyễn Đức Dương lại mắc phải cái sai kiểu khác, không kém phần nghiêm trọng. Sau đây là một phần nhỏnhững sai lầm trong cuốn Từ điển tục ngữ Việt của Nguyễn Đức Dương, kể cả những câu được nhà ngữ học xem là chuẩn mực, đem ra làm mẫu cho các em học sinh, qua đó phê phán GS Nguyễn Lân. Những câu in đậm, in nghiêng của Nguyễn Đức Dương. Nội dung gạch đầu dòng là trao đổi lại của Hoàng Tuấn Công:
Ăn khi đói; nói khi say Ăn là chuyện hay diễn ra khi bụng đói; nói là chuyện hay diễn ra khi đã ngà ngà say.-Đối với loài vật, chúng chỉ ăn khi đói (theo bản năng). Nhưng với con người, chúng ta còn ăn để thưởng thức, ăn cho vui, ăn để giao lưu, kết tình bạn bè... Ba ngày Tết, bụng không đói, mồm chẳng thèm, thế mà người ta vẫn ăn. Thậm chí ăn rất nhiều món, nhiều thứ. Còn khi “đã ngà ngà say” có người nói nhiều, nhưng không ít người lại im thít, hoặc lăn ra ngủ tít thò lò ! Cái “chân lý” mà Nhà ngữ học đưa ra thật khó đứng vững. Vả lại, giải thích như vậy thì còn gì là tục ngữ nữa ? Thử hỏi ta học được gì qua cách giải thích của N.Đ.D ? Tục ngữ là tri thức, là kinh nghiệm cơ mà ?
Câu tục ngữ đang bàn khuyên người ta cần thận trọng trong ăn và nói, đặc biệt là lúc đói và lúc say. Ăn lúc đói có thể không làm chủ được bản thân, ăn hỗn, ăn tham làm mất tư cách con người (Miếng ăn là miếng nhục-Tục ngữ); hoặc khi đói ăn không kịp nhai, ăn uống bậy bạ, dễ sinh bệnh tật. Nói lúc say (Rượu vào lời ra, Nói với người say như vay không trả-Tục ngữ) dễ sinh ra nói càn, nói bậy, phạm sai lầm, mắc lỗi đáng tiếc. Cách giải thích “tự nhiên chủ nghĩa” của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương khiến câu tục ngữ bị mất đi giá trị vốn có của nó là giáo dục, răn đời sâu sắc.
Ăn vụng không biết chùi mép
Đã ăn vụng lại còn chẳng biết chùi mép (thì quả là dại dột hết chỗ nói). Hay dùng để nhắc mọi người hãy nhớ chùi kỹ mép sau khi ăn vụng xong (cho khỏi bị phát giác).
 -Cứ theo cách lý giải này, tục ngữ khuyên dạy “mọi người” (trong đó chắc hẳn có tôi, chúng ta và cả… nhà ngữ học ?!) “nhớ chùi kỹ mép sau khi ăn vụng xong”(!) để sao cho trót lọt, “cho khỏi bị phát giác” (!) Hóa ra tục ngữ cũng dạy kinh nghiệm ăn vụng thế nào cho khéo ư ?
 Thực ra, đây là một câu chửi, câu phê phán, chế giễu, mỉa mai kẻ làm chuyện vụng trộm, bất chính nhưng lại hớ hênh, để lại chứng cứ, dấu vết quá rõ ràng khiến người đời cười chê.
Ba tháng con sẩy, bẩy tháng con sa
Mới ba tháng mà đã sinh (thì gọi là) con sẩy, mới bẩy tháng mà đã sinh (thì gọi là) con sa. 
 -Dân gian không có ý dùng tục ngữ để giải nghĩa từ vựng “con sẩy” và “con sa” trong tiếng tiếng Việt. 
“Ba tháng con sẩy, bẩy tháng con sa” là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm dưỡng thai, an thai của dân gian (mà đến nay đã được khoa học chứng minh): trong ba tháng đầu thai kỳ, người mẹ thường dễ bị sẩy thai nhất. Bởi vậy trong thời kỳ này, chuyện đi đứng, sinh hoạt, thai phụ phải kiêng khem cẩn thận. (Đông y có bài thuốc “an thai”, Tây y cũng có liệu pháp điều trị chống sẩy thai). Vượt qua được thời kỳ 3 tháng đầu, thai nhi sẽ ổn định hơn. Tuy nhiên đến tháng thứ 7, thai phụ lại rất dễ bị đẻ non (con sa). Do đó từ tháng thứ 7 người mẹ cũng phải cẩn trọng trong đi đứng, sinh hoạt để tránh bị sinh non. Ba tháng con sẩy, bảy tháng con salà vậy đó.
Báng đầu thằng trọc phải nể lòng ông sư
Cốc (vào) sọ những kẻ đầu trọc thì phải nể lòng ông sư (vì đầu ông sư cũng trọc).
-Từ “báng” cũng có một nghĩa là “cốc”. Tuy nhiên, trong câu tục ngữ trên, “cốc” không thể hiểu là “cốc (vào) sọ” được. Nếu “cốc” vào đầu kẻ trọc thì kẻ trọc chịu đau, đâu ảnh hưởng gì đến ông sư ? Báng ( 謗) là từ Hán-Việt có nghĩa là: báng bổ, mỉa mai,lên tiếng chê bai, xúc phạm đến hình ảnh hoặc những điều đối với người khác là thiêng liêng (Vì dụ: Báng bổ kinh Cô-ran). Câu này có ý khuyên mọi người nên thận trọng khi ăn nói, nhất là những lời có ý báng bổ, đụng chạm, xúc phạm kẻ khác.
Bạng duật tương trì ngư  ông đắc lợi
Trai và cò mà tranh ăn với nhau thì kẻ được hưởng lợi thường là ông đánh cá (vốn được mời đứng ra phân xử vụ tranh chấp). Hay dùng để khuyên mọi người chớ có tranh ăn với nhau mà dễ bị kẻ ngoài cuộc đoạt mất.
-Sẽ thật không phải nếu dám coi thường nhà ngữ học - TS Nguyễn Đức Dương chưa hề biết đến điển cố“Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”.Tuy nhiên, việc TS giải thích sai câu tục ngữ này lại nói lên điều đó.
Ở đây không có chuyện “trai và cò tranh ăn với nhau”, càng không có chuyện ông đánh cá “vốn được mời đứng ra phân xử vụ tranh chấp”. Điển cố này tóm tắt: Theo Chiến quốc sách, một hôm con trai mở miệng phơi nắng trên bãi cát, cò đi kiếm mồi, mổ ngay vào ruột con trai, trai liền khép chặt hai mảnh vỏ lại. Cò và trai cùng giằng nhau mãi, không con nào chịu nhường con nào, lão đánh cá đi qua thấy vậy liền chộp được cả hai (Điển Cố văn học - Nhà XB Khoa học xã hội - Hà Nội 1977).“Tương trì” nghĩa là níu giữ, giằng co nhau, không phải là “tranh ăn”như  soạn giả giải thích. Lẽ nào nhà ngữ học không biết đến cả mấy câu ca dao diễn dịch rất hay câu chuyện này: “Cái cò mà mổ cái trai, Cái trai quặp lại lại nhai cái cò, Ngư ông bước tới lò dò, Giơ tay chộp lấy cả cò lẫn trai” ?!)
Cà làng Hạc ăn gãy răng; khoai làng Lăng ăn tắc cổ
Cà làng Hạc (rắn tới độ) có thể làm gãy cả răng khi nhai; khoai làng Lăng (cứng tới độ) có thể làm tắc cả cổ khi nuốt.
-Lẽ nào nhà ngữ học lại không hiểu lời ăn tiếng nói của dân gian ? “Gãy răng” và “tắc cổ” chỉ là cách nói ngoa dụ mà thôi. Cà làng Hạc (nay thuộc TP Thanh Hoá) là thứ cà màu trắng, ăn rất giòn. Khi cắn, âm thanh quả cà vỡ ra, giòn tan, khiến người ta tưởng như hàm răng người ăn cà cũng gãy ra, vỡ theo đánh “đốp”. (Còn có giống cà quả nhỏ, mầu trắng, ăn giòn tan như “pháo” nên gọi là cà pháo). Làng Lăng (làng Linh Lộ-xã Quảng Hợp-Quảng Xương- Thanh Hóa) có giống khoai tên là Ô Xập, lá chia nhiều thùy hình chân vịt, củ tròn, bột trắng xóa từ ngoài vào trong nên khi ăn thường bị nghẹn, cảm tưởng như cổ bị tắclại. Câu tục ngữ này ngợi ca hai sản vật cà và khoai đều ngon, quý, không phải chê“rắn”và “cứng tới độ” ăn “gãy răng khi nhai” và “tắc cả cổ khi nuốt” như soạn giả lầm tưởng.
Chiêm khê; mùa thối
(Tình trạng hay gặp ở vùng chiêm trũng là đất gieo trồng) trong vụ chiêm hay bị khê; trong vụ mùa hay bị thối.
-Từ “khê” được Nguyễn Đức Dương giải thích “Khê (Đất phơi ải) chẳng tài nào khô nỏ và tơi xốp nổi (do ít được dãi dầu cùng nắng gió)”. Và chữ “Thối (Đất làm dầm) chẳng tài nào nhuyễn ra nổi (do nước mất hết khả năng ngấm sâu vào đất).
Loại đất cày ải không đủ thời gian hoặc điều kiện thời tiết làm cho khô nỏ, người ta gọi là ải thâm, không ai gọi đất “khê”(Ải thâm không bằng dầm ngấu) Nếu đất “không tài nào nhuyễn ra nổi” nguyên do “nước mất hết khả năng ngấm sâu vào đất” thì sao gọi là “thối” được ?
Câu tục ngữ trên nói về khó khăn của vùng đất không chủ động được tưới tiêu.Vụ chiêm (gắn với mùa khô) chỉ trông chờ vào nước trời, nên đất đai, cây trồng thường bị “khê” - khô cháy (“khê” - trong từ cơm khê - cơm bị cháy khét). Vụ mùa (gắn với mùa mưa lũ) hệ thống tiêu nước kém nên đất đai và cây trồng bị ngâm đến thối trong nước lũ. Bởi thế đối tượng mà tục ngữ nói đến ở đây không chỉ là đất gieo trồng (như NĐD giải thích) mà bao gồm cả cây trồng trên đất ấy (cụ thể là cây lúa nước).
Thực ra câu tục ngữ “Chiêm khê, mùa thối”chỉ là cách nói hình tượng hơn câu “Chiêm khô; mùa úng” mà nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương dẫn ra ngay sau đó. Tuy nhiên, soạn giả lại tìm ra một cách giải thích khác, kèm thêm một cái sai khác: “Chiêm khô; mùa úng(Tiết trời hay gặp) khi làm chiêm là hanh khô (vì ít mưa); khi làm mùa là úng ngập (vì mưa nhiều)”. Theo cách giải thích này, Nhà ngữ học đã biến câu tục ngữ nói về nỗi khổ cực của người trồng lúa trên vùng đất canh tác khó khăn thành câu tục ngữ có nội dung nhận xét về đặc điểm “thời tiết hay gặp” của vụ chiêm và vụ mùa.
Đám cưới chọn ngày; đi cày chọn hướng
(Làm) đám cưới thì nhớ chọn ngày (lành); cho trâu ra đồng đi cày thì nhớ chọn hướng (vượng).
-Làm đám cưới “chọn ngày (lành)” thì đúng rồi. Nhưng “cho trâu ra đồng đi cày” cũng phải “nhớ chọn hướng (vượng)” mới cày thì nghe kỳ dị quá ! Nếu vậy, muốn trở thành thợ cày, người ta phải đi học thày phong thủy trước đã; và khi ra đồng, ngoài con trâu, cái cày, bác nông dân còn phải kè kè thêm cái la bàn ? !
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam manh mún, nhỏ lẻ. Ruộng thì vuông, ruộng hình chữ nhật, ruộng xéo, gẫy góc, đủ mọi hình thù. Đường cày đầu tiên sẽ là đường quyết định cho tất cả đường cày, luống cày tiếp theo. Do đó, phải chọn hướng để cày, sao cho có được nhiều đường cày dài, trâu ít phải quay đầu, đồng nghĩa ít phải cuốc bờ, cuốc góc. Vậy tại sao lại ví chuyện chọn hướng cày với chọn ngày đám cưới ? Vì dân gian muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khởi đầu. Nếu khởi đầu tốt, đúng sẽ tạo thuận lợi cho công việc tiếp theo và ngược lại. Ví như chọn đám cưới phải ngày xấu, người ta không thể cưới lại. Chọn hướng cày sai, đổi hướng cũng dở, mà cày tiếp cũng dở.
“Đám cưới chọn ngày, đi cày chọn hướng” chỉ đơn giản vậy thôi.
Đóm ăn ra; tim la ăn vào
Đóm là thứ hay cháy theo hướng từ trong ra: tim la là chứng hay ăn theo hướng từ ngoài vào.
-Có thể dễ dàng nhận ra soạn giả chép nhầm từ “đom” thành “đóm” rồi giải nghĩa từ vựng, diễn giải nội dung tục ngữ rất khiên cưỡng. Tại sao bỗng đâu đem chuyện đóm cháy so sánh với bệnh tim la ? Mặt khác khi cố tình lý giải “đóm là thứ hay cháy theo hướng từ trong ra ngoài” cho hợp với từ chép nhầm khiến đã sai càng thêm sai. Khi đóm cháy, ngọn lửa lan dần từ ngoài vào phía trong (phía tay người cầm đóm) đâu có cháy từ phía trong tay người cháy ra ngoài ? Sai sót này xuất phát từ chỗ soạn giả không hiểu quy luật cấu trúc từ của tục ngữ, thành ngữ dân gian. (Giống trường hợp câu Áo cứ tràng, làng cứ xã bị GS Nguyễn Lân chép nhầm thành Áo cứ chàng, làng cứ xã , mà chính Nguyễn Đức Dương đã từng phê phán trong phần phụ lục Từ điển tục ngữ Việt).
 Đom(là cách gọi tắt bệnh lòi đom hay lòi dom)  cũng là tên gọi khác của bệnh trĩ. Bệnh này phát triển theo chiều hướng “ăn ra”, tức ngày càng lòi (lồi) ra ngoài hậu môn. Còn bệnh “tim la” (hay tiêm la hoặc xiêm la, bệnh lậu) lại xâm nhập (chủ yếu qua đường tình dục, đường máu…) rồi ăn sâu vào lục phủ ngũ tạng, không nhìn thấy được. Như vậy lòi đom và tim la đều là hai chứng bệnh. Câu “Đóm cháy ăn ra; tim la ăn vào” (thêm chữ “cháy”) Nguyễn Đức Dương dẫn ra ngay sau đó và cho rằng đồng nghĩa với“Đóm ăn ra; tim là ăn vào”, chẳng qua chỉ là một dị bản ngụy tạo, mục đích cố chứng minh cho cái vô lý của “Đóm ăn ra, tim la ăn vào” mà thôi.
Đói giỗ cha; no ba ngày tết
Hay bị đói là vào dịp giỗ cha (vì đâu còn lúc nào mà nghĩ tới chuyện ăn trong khi đang mải lo chuyện cúng giỗ); hay được ăn no là vào dịp ba ngày Tết (vì đó là một thông lệ vốn có tự ngàn xưa)
-Không phải "hay đói là vào dịp giỗ cha". Chẳng có ở đâu phong tục làm giỗ cha lại theo quy luật như thế. Giỗ cha là dịp lễ trọng (Trâu bò được ngày phá đỗ, cón cháu được bữa giỗ ông - tục ngữ). Nếu "đói vì mải lo chuyện cúng giỗ" thì cúng xong cũng phải được ăn chứ ? Tục ngữ có câu "Trước cúng cha sau va vô miệng" cơ mà ? (Chữ va có tính chất hài hước, ý chỉ con cháu ăn uống thực sự sau khi cúng giỗ). Thực ra, câu tục ngữ “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết” được hiểu như sau: Ngày giỗ cha rất quan trọng, nhưng không dứt khoát phải cỗ bàn thịnh soạn. Gặp năm mùa màng thất bát, đói kém, chiến tranh loạn lạc thì ngày giỗ cha có khi chỉ có nén hương, chén nước, bát cơm, quả trứng gọi là nhớ ngày kỵ. Như thế không có gì là trái đạo lý. Bởi tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không câu nệ mâm cao cỗ đầy, "Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng". Thế nhưng ba ngày Tết lại là chuyện khác. Người ta có thể túng thiếu, quanh năm nhịn đói, nhịn thèm, nhưng ba ngày Tết cũng phải chạy vạy bằng được để ít nhất không được ăn ngon cũng phải ăn no. Thế nên có câu "Giàu hay nghèo, ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà". Tết đến người ta không chỉ ăn cho no bụng mà còn ăn để lấy may cả năm. Ngày Tết được ăn ngon, ăn no, mặc đẹp, vui vẻ, nhàn hạ thì hy vọng cả năm cũng sẽ được như vậy. Tóm lại, câu tục ngữ đưa ra ngày quan trọng (giỗ cha) để so sánh, khẳng định một ngày khác quan trọng hơn: Tết là ngày quan trọng nhất trong tất cả những dịp lễ quan trọng trong năm; Có thể bị đói vào ngày giỗ cha nhưng ba ngày Tết dứt khoát phải được no. Ta còn bắt gặp cách nói này của dân gian trong câu "Cha chết không lo bằng gái to trong nhà". Thực tế "cha chết" là đại tang, việc lớn lắm. Thế mà dân gian lại đem so sánh và cho rằng không bằng chuyện "gái to trong nhà". Thủ pháp này cũng nhằm gửi đến một thông điệp, kinh nghiệm: có con gái lớn đến tuổi lập gia đình ở trong nhà là nỗi lo lắng lớn, (ví như lo quá lứa lỡ thì, lo chẳng may “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chửa hoang, tai tiếng...) Sẽ là việc làm khá hài hước nếu chúng ta thắc mắc và cố đi tìm nguyên nhân tại sao, ở đâu lại có chuyện coi thường việc "cha chết" như vậy.
Tham khảo: Về câu "Đói giỗ cha no ba ngày Tết", trên Báo Lao động Cuối tuần (7/1/2012), mục "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" PGS TS Phạm Văn Tình cho biết: "bản thân tôi nhiều lúc cũng không rõ nguyên do từ đâu dẫn đến câu tục ngữ này. Hầu hết các sách sưu tầm văn hoá dân gian chỉ thống kê chứ chưa giải thích kỹ câu đó (...). Đầu năm 2010, khi cuốn “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010) xuất bản, tôi vội vã tra ngay". Theo PGS TS Phạm Văn Tình "cách cắt nghĩa như vậy (tức cách giải thích của Nguyễn Đức Dương-HTC) cũng chưa thật rõ ý". Thế là PGS TS Phạm Văn Tình đã phải  đi làm cuộc "điền dã" không cần thiết theo cách "hỏi các cụ cao niên ở nhiều nơi tôi qua (Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc; Yên Xá, Ý Yên, Nam Định; Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình...)" để được các cụ giải thích tại sao lại đói vào ngày giỗ cha rất dài dòng. Theo đó, cách giải thích của PGS TS Phạm Văn Tình công phu hơn nhưng cũng không ngoài một số nguyên nhân là phải lo chuyện lễ lạt, cúng cấp, tiếp khách...nên bị đói vào ngày giỗ cha như TS Nguyễn Đức Dương. Việc làm này khác nào cất công đi tìm hiểu xem ở đâu, tại sao lại có chuyện “Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”.
Đói no vua bếp hay; đắng cay bà gừng biết
Cả khi đói lẫn khi no vua bếp đều biết tường tận; cả khi khỏe mạnh lẫn khi ốm đau bà gừng đều biết rõ hết. Hay dùng để ngợi khen lòng cảm thông sâu sắc của ông Táo và củ gừng đối với thân phận của người nghèo ở nông thôn hồi trước.
-Nguyễn Đức Dương chú thích: "Bà gừng. Tên dân gian hay dùng để gọi củ gừng theo lối ẩn dụ, vị thầy thuốc tài ba vẫn cứu giúp người dân quê nghèo trong việc chạy chữa mọi thứ bệnh tật".
Cách giải nghĩa và chú thích nghe thật mùi mẫn. Thế nhưng, đó chỉ là lời “tán” vô căn cứ. Nghĩa đen của câu thành ngữ này là: Ông Bếp phụ trách việc bếp núc nên gia chủ đói hay no, nấu nướng ăn uống món gì đều không giấu được. Còn “bà Gừng” thường được dùng để "làm thang" cho ấm thuốc Bắc (cắt ba lát gừng bỏ chung với ấm thuốc để đun). Vì "nằm" ngay trong siêu thuốc suốt quá trình sắc nên thuốc đắng hay cay "bà gừng đều biết"cả, không thể giấu được. Và vai trò của "bà gừng" chỉ là phụ gia dẫn thuốc, để tăng công hiệu của thuốc. Không nên vì không hiểu mà tâng bốc "bả" thành "vị thầy thuốc tài ba vẫn cứu giúp người dân quê nghèo trong việc chạy chữa mọi thứ bệnh tật" (!) Nghĩa bóng câu thành ngữ này là: Không thể giấu giếm được sự thật; Sự thật sẽ được xác minh bởi những người trong cuộc.
 Đừng chờm mà có ngày chấn móng
  Đừng (xây tường vách) chờm (ra quá xa chân móng đỡ nó) mà có ngày sẽ bị chấn móng.
 -“Chấn móng” được Nguyễn Đức Dương chú thích: “(Tường vách) bị gãy gập lại ngay tại nơi tường, vách tiếp giáp với chân móng”. Thế nhưng như thế là tường bị đổ chứ móng đâu có chấn ? Hơn nữa, nếu giải thích theo hướng này thì “chờm”(vần ch) phải thay bằng “trờm” (vần tr) mới đúng. Việt Nam tự điển giải nghĩa: “Trờm: Thừa ra, trùm lên cái khác. Tóc trờm quá tai, Vung trờm miệng nồi”. Đây là “chờm” kia mà ? Cách giải thích của Nguyễn Đức Dương không thể đứng vững, bởi nội dung tục ngữ chẳng liên quan gì đến chuyện xây dựng tường vách. Đại Nam Quấc âm tự vị(Huình Tịnh Paulus Của) giải thích từ chờm: “Chờm:  nhảy dựng, nhảy xơm mà chụp... Ngựa chờm- Ngựa dựng lên mà chụp”. Và xin tham khảo Việt Nam tự điển giải nghĩa một số từ có trong câu tục ngữ đang bàn: “Chờm: Cũng như chồm (...) Móng: Móng chân móng tay, móng lừa móng ngựa (...) Chấn: Xén, cắt bớt đi: Chấn móng ngựa”. Như vậy, từ chỗ lầm lẫn “chờm” (động từ) với trờm (tính từ) rồi lại giảng sai nghĩa từ vựng của “chờm”, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã cho cái móng ngựa đi xa cả ngàn dặm rồi biến thành cái...móng nhà (!) Câu Đừng chờm mà có ngày chấn móng theo nghĩa đen là lời đe nẹt đối với con ngựa bất kham: Đừng nhảy chồm lên mà có ngày bị chấn (cắt, xén) bớt móng đi (do nhảy chồm nhiều móng bị bè, bẹt ra). Hiểu theo nghĩa bóng: đây là lời răn đe, cảnh cáo đối với kẻ ương bướng, ưa phá phách, sẽ có ngày tự mình làm hại mình.
Gà kị hổ mang; lúa kị màng rạp
 Gà là giống rất kỵ rắn hổ mang (tới độ dễ bị chột đi sau khi bị giống rắn ấy “thổi”); lúa là giống rất kỵ màng rạp (tới độ khó mà trổ nổi sau khi bị lũ rầy ấy ập tới hút nhựa)
 -Nguyễn Đức Dương chú thích: “Màng rạp dt. Tên dân gian hay dùng để chỉ giống rầy chuyên hút nhựa từ lá lúa khiến lá bị đen đi và không sao làm nổi đòng”.
Giải thích như vậy là không hiểu tập tính sinh trưởng và sự gây hại của con sâu rầy thế nào. Con rầy không bao giờ "hút nhựa từ lá lúa". Vì nhựa (chất dinh dưỡng của lúa) không tập trung ở lá mà ở thân, bẹ lúa. Thứ hai “lũ rầy” không “đánh tập kích” kiểu “ập tới hút nhựa” giống như đàn chim mà chúng di trú ngay tại ruộng, đẻ trứng, sinh sôi nảy nở, lứa nọ gối lứa kia (gọi là rầy gối lứa) và thi nhau chích hút ở phần thân dưới gốc lúa. Thế nên khi phun thuốc diệt rầy, người ta phải rẽ lúa thành băng, đưa trực tiếp vòi phun xuống gốc lúa để thuốc tiếp xúc trực tiếp với con rầy chứ không phun trên bề mặt của lá lúa. Nếu bị rầy hại nặng ở thời kỳ nào, cây lúa sẽ bị chết khô giống như hơ vào lửa (gọi là cháy rầy). Đâu phải chỉ “khiến lá bị đen đi và không sao làm nổi đòng” hay  "khó mà trổ nổi" như cách giải thích của nhà ngữ học. Còn cái thứ hại mà “khiến lá bị đen đi” chính là do giống rệp muội đen chứ không phải rầy. Rệp chích hút nhựa cây, chất thải của chúng tiếp tục được một loại nấm cộng sinh tạo thành lớp phấn màu đen phủ kín lá cây, nên gọi là rệp muội đen.Và rệp muội đen thường gây hại trên cây trồng cạn như: cây ăn quả, mía, chuối, cam quýt ...chứ không phải cây lúa nước.
Mài mực dỗ con: mài son đánh giặc
Mài mực (nho là việc dễ làm còn hơn cả) dỗ con; mài son (cục là việc khó làm còn hơn cả) cầm quân đánh giặc.
Mài mực ru con, mài son đánh giặc
Mài mực (nho là việc dễ làm còn hơn cả) ru con; mài son (cục là việc khó làm còn hơn cả) cầm quân đi đánh giặc.
-Nguyễn Đức Dương giải thích câu này không đến nỗi sai lạc nghiêm trọng  như GS Nguyễn Lân: “Mài mực ru con, mài son đánh giặc. Nói các ông đồ ngày xưa ngày thường ngồi dạy học đồng thời giúp vợ làm việc vặt trong nhà, nhưng khi có giặc thì tham gia phục vụ quân sự” (Từ điển Thành ngữ tục ngữ Việt Nam-NXB Văn hóa thông tin-1989) Nhưng soạn giả Nguyễn Đức Dương  lại mắc phải cái sai kiểu khác.
Xin hỏi, trẻ nhỏ mà quấy khóc, dỗ được nó nín, ru cho nó ngủ đâu dễ tới mức có thể đem so sánh với những việc làm dễ nhất trên đời ? Tục ngữ cũng đâu nói “dễ làm còn hơn cả” ru con, hay “khó làm còn hơn cả” đánh giặc. Hơn nữa, mài mực nho đâu có dễ ?
Câu tục ngữ “Mài mực ru con, mài son đánh giặc” được diễn giải là: Mài mực phải mài nhẹ nhàng giống như ru con (hoặc dỗ con); mài son phải mài mạnh mẽ giống như đi đánh giặc. Bởi vì, mực tàu đóng thành thỏi rất rắn, nhưng khi mài lại không được phép mạnh tay. Nếu sốt ruột, mài mạnh tay cho nhanh, mực sẽ không mịn, sinh ra lắm hạt sạn nhỏ; khi viết ngọn bút bị xơ, nét bút không đẹp. Ngược lại, nếu mài nhẹ nhàng, từ từ, êm ái (như “ru con”) mực trong thỏi sẽ ngấm dần, hoà tan, quyện với nước, cho một thứ mực mịn màng, sóng sánh, khi viết đầu bút chụm lại, bút lông có độ đàn hồi tốt và nét bút không bị xơ, cứng, mặt chữ bóng, đẹp. Còn đối với mài son. Xưa kia, người ta thường lấy các loại đá có màu đỏ trong tự nhiên để làm son, rất rắn. Tuy nhiên, son không yêu cầu mịn như mực, bởi thông thường người ta không dùng son để viết chữ mà chỉ dùng để  phê, khuyên, đánh dấu hoặc đóng ấn, triện. Do đó, khi mài son được phép mài (và phải mài) mạnh tay mới được (mạnh mẽ như đi “đánh giặc”vậy). Việc mài mực rất quan trọng. Chuyện kể rằng, xưa có người ở làng Hạc Oa (nay thuộc TP Thanh Hóa) chuyên mài mực cho Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh, sau được hàm Cửu phẩm, gọi là ông Cửu Mặc (ông Cửu phẩm mài mực).
Mâm cao đánh ngã bát đầy
Mâm cỗ bày lắm món đặt chồng lên nhaubao giờ cũng đánh bại dễ dàng các mâm cỗ chỉ bày vài ba món dù đĩa nào cũng được đơm rất đầy. Hay dùng để chỉ rõ một lẽ thật: “Mâm cỗ bày lắm món bao giờ trông cũng bắt mắt hơn là mâm cỗ chỉ bày vài ba món được đơm đầy”.
-Giải thích như vậy câu tục ngữ trở nên tầm thường quá. Cần chú ý hai khái niệm: mâm cao và bát đầy. Mâm cao là mâm được dọn ra ở vị trí cao (sang) nhất thường dành cho các vị chức sắc, các cụ cao niên hoặc người được tôn trọng trong làng xã (hay đình đám). Còn bát đầy được hiểu là đồ ăn thức uống không được dọn thành mâm (cỗ) mục đích chỉ cốt ăn uống cho no bụng. Do đó, cái “mâm cao” sang trọng giữa làng vẫn được người ta thích hơn là cái bát đầy ở xó bếp. Vì "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp" kia mà ! Dân gian còn có câu: "Mâm cao, cỗ đầy", nghĩa là được cả danh và lợi: vừa sang trọng về vị trí, vừa thịnh soạn về các món ăn. Chữ "mâm cao" ở đây chính là mâm cao trong câu "Mâm cao đánh ngã bát đầy" chứ không phải là "mâm cỗ bày lắm món đặt chồng lên nhau" như cách giải thích của nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương.
Mẻ không ăn cũng chết
Mẻ mà chẳng  ăn thì cũng chết (nên có để dành được đâu mà cố để giành) Hay dùng để khuyên mọi người chớ có dè sẻn những thứ không thể để giành được mà uổng công.
-Thực ra ở đây là mẻ không được ăn chứ không phải không ăn đến mẻ. Mẻ không phải là loại gia vị thiết yếu. Cho nên người ta chỉ nuôi mẻ bằng cơm nguội, cơm thừa, thậm chí cơm đã có mùi thiu mới đem cho mẻ (ngày xưa hiếm lương thực). Nếu thừa cơm thì cho mẻ ăn, không thừa thì thôi. Thế nên có câu thành ngữ Coi như mẻ (xem thường, xem khinh ai đó giống như mẻ). Có vẻ như mẻ thật dễ tính, ăn cũng được, không ăn cũng không sao. Tuy nhiên, thực tế, nếu mẻ không được ăn trong thời gian dài, lọ mẻ hết chất tinh bột để vi khuẩn gây men hoạt động thì mẻ cũng chết như thường. Câu tục ngữ trên đề cao tầm quan trọng nhu cầu ăn uống của tất cả mọi sinh vật. Ai cũng phải ăn uống mới duy trì được sự sống. Vì đến dễ tính như mẻ kia không ăn cũng chết cơ mà !                  
Mồ cha chẳng khóc khóc đống mối; mồ mẹ chẳng khóc khóc bối bòng bong.
Mồ cha chẳng khóc, lại khóc mấy nấm đất do mối đùn; mồ của mẹ chẳng khóc, lại khóc mấy cái búi bòng bong. Hay dùng để chê trách những kẻ quá tin vào lời đám thầy địa lý/thầy cúng tới độ chỉ đi than khóc các thứ vớ vẩn, mà chẳng thèm ngó ngàng gì tới mồ mả của cha mẹ mình.
-“Bòng bong” ở đây được nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương chú thích là “búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết".
Nếu chỉ dừng ở việc diễn giải tục ngữ thì đúng. Nhưng thêm mấy dòng chú thích lại trở thành sai. Đũa tre cắm trên bát cơm cúng gọi là "đũa bông" chứ không phải là “bòng bong”. Có một loại gọi là bòng bong là phoi tre (kiểu như phoi bào nhưng dài mà mảnh hơn, quăn hơn) do người ta vót nan tre, nứa để đan đồ đựng rồi vò thành đống. Có câu "Rối như búi bòng bong" cơ mà ! Mấy cái xơ của đũa tre vót ra tuy cong tít nhưng một đầu vẫn dính vào chiếc đũa nên xơ nào ra xơ ấy chứ đâu có rối ? Còn bòng bong trong câu tục ngữ lại là một loại dây leo, hay mọc ở các bụi rậm, mầu nâu, mảnh như sợi miến mà dai, quấn nhằng nhịt vào nhau. Câu “Rối như bối bòng bong” cũng được dùng để chỉ loại bòng bong này.
Trở lại với câu tục ngữ. Cái tổ mối đùn nó lùm lùm gần giống như một nấm  mồ vô chủ. Còn cái bụi rậm nhằng nhịt những búi (bối) bòng bong cũng tựa như một ngôi mộ bịt thất lạc, lâu ngày hóa hoang rậm. Thế nên, ông thầy đi tìm mộ mới chỉ vào đó để người ta khóc lóc, khấn vái, vì cứ ngỡ mộ tổ tiên ông bà bấy lâu không ai chăm sóc. Còn nếu khóc búi “bòng bong” là “búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết", thì lúc này con cháu đang than khóc chung quanh làm sao có thể nhầm ra mộ tổ tiên mình bị thất lạc được ?
Một ngôi sao một ao nước Mỗi một ngôi sao hiện ra trên bầu trời đêm hôm trước (là điềm ngày mai trời sẽ trút xuống mặt đất) một ao đầy nước mưa. 
-Rất khó chấp nhận cách giải thích trên của Nguyễn Đức Dương. Bởi theo kinh nghiệm dân gian, nếu đêm hôm trước bầu trời đầy sao là dấu hiệu ngày mai trời sẽ không một gợn mây, nắng chang chang. Đâu có chuyện ngược đời, đêm hôm trước càng nhiều sao, ngày mai càng mưa lớn ?
Vậy, câu tục ngữ của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương được hiểu như thế nào ? Nói như dân gian “đến trời cũng không thể hiểu nổi”. Bởi hình thức chính xác của câu tục ngữ là: Một sao, ao nước. Một sao nghĩa là không có ngôi sao nào. “Một” là từ Hán Việt có nghĩa như sau:
- “① Chìm đắm, bị nước tràn ngập gọi là một. ② Chết, mất rồi, có khi viết là 歿. ③ Hết, như một thế 沒世hết đời. ||④ Không có, chế người không biết chữ gọi là một tự bi沒字碑 ý nói trong lòng không có một chữ nào. ⑤ Mất tích, như mai một 埋沒 vùi mất, dẫn một泯沒 tan mất, v.v.” (Hán Việt tự điển-Thiều Chửu).
- “Một 沒: Không, không có (một hữu 沒有)① Chìm, lặn: một nhập thủy trung 沒入水中 Chìm xuống dưới nước;...③ Ẩn, mất: (xuất một 出沒 ẩn hiện” (Từ điển Hán Việt - Trần Văn Chánh, lược trích)
 Nghĩa của từ “một”trong Hán văn là như vậy. Thế nhưng trong ngôn ngữ hàng ngày, hoặc câu kết hợp Hán + Nôm, người ta có dùng “một” với nghĩa là không có, ẩn giấu, chìm lấp, mất  không ? Thưa là có:
- Đại Nam quấc âm tự  vị của Huình Tịnh Paulus Của : “Một歿. Chết, mất: (...) “Làm tờ một hạ: làm giấy khai về sự bị ăn trộm, ăn cướp, cho làng làm chứng”.
- Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức : “Một 沒mất (không dùng một mình) một tích, mai một. Một thú: mất thú: đi chơi không có bạn thật là một thú”.
Kết luận: từ “một” trong câu tục ngữ Một sao, ao nước được hiểu là vắng, không có, chìm mất, ẩn mất. Tục ngữ dùng “một” với ý là sao trời bị chìm lấp, bị che lấp đi bởi mây đen. Một sao, ao nước được hiểu:  Nếu sao đêm bị mây đen che lấp hết thì ngày mai mưa to, ao chuôm đầy nước. (Dị bản nhìn sao để đoán thời tiết: Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa).
Như vậy, do người sưu tầm (hoặc chính do Nhà ngữ học) không hiểu  tục ngữ “Một sao, ao nước” là gì nên tự ý chữa “một” (tính từ), thành “một”(số từ) và thêm ngôi cho "sao": “Một ngôi sao, một ao nước". Thế nhưng tục ngữ chẳng những không dễ hiểu mà trở nên bế tắc về cách hiểu. Cuối cùng soạn giả từ điển giải thích theo kiểu ngược đời, bất chấp thực tế khách quan.
Lắm thầy rầy ma
Càng có lắm thầy (cúng) bao nhiêu thì lũ ma càng kéo tới quấy rầy bấy nhiêu. Hay dùng để khuyên mọi người chớ có tin những lời nhảm nhí của đám thầy cúng về ma quỷ (vì đó đều là những trò lừa đảo chỉ cốt moi tiền).
Lắm thầy thối ma.
Càng có lắm thầy (lang) bao nhiêu thì các con bệnh càng dễ hóa thành ma thêm bấy nhiêu. Hay dùng để nhắc mọi người là chớ có tin vào các trò chữa chạy của đám lang băm mà dễ bị mất mạng.
Lắm thầy thối ma; lắm cha con khó lấy chồng
Càng có lắm thầy (lang) bao nhiêu thì các con bệnh càng dễ hóa thành ma thêm bấy nhiêu; càng có lắm bậc làm cha (dự phần vào việc chọn chồng cho con) bao nhiêu thì các con càng khó lấy chồng thêm bấy nhiêu.
-Hai dị bản “rầy ma” và “thối ma” là đồng nghĩa. Nhưng thật khó hiểu, “rầy ma”(lưu ý: khác ma rầy) được soạn giả giải thích là do “thầy cúng” mà“lũ ma kéo tới quấy rầy”, còn “thối ma”lại được giải thích là do “thầy lang” nên“các con bệnh dễ hóa thành ma”. (Con bệnh dù nặng đến mấy, khi chưa chết cũng không thể gọi là ma được). Và điều quan trọng cả hai cách hiểu này đều sai.
Câu Lắm thầy rầy ma, hay Lắm thầy thối ma đều liên quan đến cùng một “thầy” đó là thầy cúng. Nghĩa đen được hiểu: khi một người chết (không phải con bệnh như cách hiểu của NĐD) nằm đó, nếu để cho nhiều thầy cúng xem ngày giờ đưa ma, hay chọn huyệt để táng sẽ rất phiền hà. Vì thầy này nói được, thầy kia nói không, lắm ý kiến khác nhau, hậu quả người chết cứ nằm đó, muốn yên thân, mồ yên mả đẹp cũng không xong. Rầy ma là như thế. Thậm chí khi thầy phán chưa chọn được giờ tốt, ngày tốt thì người chết cứ nằm đó đợi, đến mức xác chết bắt đầu phân hủy (thối) còn chưa được chôn. Thối ma là như vậy.
Đất sỏi có chạch vàng
Đất chỉ toàn là sỏi với đá, nhưng sinh sống bên dưới lại là những con chạch bằng vàng.
-Có ai đúc chạch “bằng vàng” yểm dưới đất sỏi chăng ? Xin thưa“Chạch vàng” ở đây không phải là “những con chạch bằng vàng” mà là những con chạch béo vàng-thứ chạch thường sinh sống dưới đất bùn có nhiều màu mỡ. Ở đây, đất sỏi mà lại vẫn có chạch vàng như thường.Ý dân gian muốn nói đến vùng đất tuy khô cằn, nghèo khó nhưng lại sinh ra những nhân tài kiệt xuất, hoặc sản vật nổi tiếng.
Trong Từ điển tục ngữ Việt có những câu soạn giả suy diễn sai hoàn toàn. Ví dụ:
Kẻ ăn rươi người chịu bão
Kẻ muốn ăn rươi nhưng lại bắt người khác phải dầm mưa bão để vớt về cho mình. Hay dùng với ẩn ý: nh. Ngồi mát ăn bát vàng.
-Không ai đi “dầm mưa bão để vớt rươi” cả. Rươi là giống rất mẫn cảm với thời tiết, nên bao giờ nó cũng từ dưới bùn sâu chui lên trước khi thời tiết thay đổi. Giống rươi lại phải thật tươi ăn mới ngon. Thế nên, bắt đầu có rươi là dân đồng sác nhao ra đồng vớt ngay. Nếu gặp phiên chợ thì gánh chạy cho nhanh để kịp bán khi rươi còn sống, bò lúc nhúc. Bằng không cũng phải gánh vội đi bán ở các làng xã lân cận cho kịp. Khi rươi ươn, vỡ bụng, chảy gạch ra coi như hỏng. Thường người ta vớt được rươi lên, hoặc mua rươi về nấu ăn xong, nửa ngày, hoặc một ngày sau đó mới nổi mưa gió trái mùa như hiện tượng bão, gọi là “bão rươi” hoặc “mưa lấp lỗ rươi”. (Câu đố về rươi: Mỗi năm vài bận ra chơi, Làm cho lở đất long trời mới nghe). Chỉ ít dân đồng sác và mấy xã lân cận là được ăn rươi (do số lượng có hạn và rươi khó bảo quản để vận chuyển đi xa bán). Thế nhưng cả tỉnh, cả huyện phải chịu chung cảnh thời tiết mưa bão ấy. Kẻ ăn rươi người chịu bão là như vậy.
Quạ ăn dưa bắt cò dãi nắng
Quạ muốn ăn dưa nhưng lại bắt cò phải dãi nắng (để kiếm dưa về cho mình). Hay dùng với ẩn ý: nh. Kẻ ăn  rươi, người chịu bão.
-Trong thực tế nghĩa đen, làm gì có chuyện con quạ bắt con cò phải dãi nắng “để kiếm dưa về cho mình” ? Không nên suy diễn thay cho lời giải thích câu tục ngữ.
Quạ là giống chim đa thực. Ngoài gà con, xác thối...chúng còn rất thích ăn các thứ quả như mít, dưa hấu…(vào mùa mít rừng chín, chúng khoét vỏ, chui đầu vào ăn, con nào con nấy đầu trọc lóc do bị nhựa mít “vặt” hết lông). Chìa khóa để giải mã câu tục ngữ trên là “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”. Thời tiết nắng nhiều khiến quạ được chén những quả dưa ngọt lành. Trong khi đó, cò không ăn được dưa (loài chim này chỉ ăn tôm tép, cá con, côn trùng…) lại phải chịu chung đặc điểm thời tiết nắng nóng chang chang ấy (đôi khi làm cạn nước, chết hết cá tôm, ảnh hưởng đến môi trường kiếm ăn của cò).
Như vậy, hai câu “Kẻ ăn rươi, người chịu bão” và “Quạ ăn dưa, bắt cò dãi nắng” ý nói: lợi ích hoặc hoàn cảnh thuận lợi của (nhóm) người này, đôi khi (vô tình) gây trở ngại, khó khăn đối với (nhóm) người khác. Ví như mùa hè nắng nóng kéo dài, dân kinh doanh du lịch biển “hốt bạc”. Trong khi người thường hoặc nông dân cày cấy lại  “lãnh đủ”. Không thể hiểu và dùng với ẩn ý “Ngồi mát ăn bát vàng” như Nguyễn Đức Dương giải thích.
Quan họ thịt gà; giỗ cha thịt ếch
(Thết các liền anh liền chị trong làng) quan họ thì nên dùng thịt gà; (làm giỗ cho cha thì nên dùng thịt ếch).
-Cách giải thích sai lầm nghiêm trọng. Trong các lễ vật dâng cúng, con gà được xem là con vật hiến tế rất quan trọng. Thế nên, không có gà cúng, người ta còn có thể thay bằng quả trứng gà. Gà hay xôi gà là lễ vật sang trọng đối với cả người sống và người chết. Trong khi đó mặc dù thịt ếch thơm ngon, trắng như thịt gà, dân gian hay gọi là gà đồng (gọi theo tên chữ của ếch là điền kê田雞). Nhưng thịt ếch đâu có được coi là loại đồ ăn “ra tấm, ra miếng”; càng không phải là phẩm vật dâng cúng thể hiện sự kính trọng đối với tiền nhân. Do đó, giảng rằng: “(làm giỗ cho cha) thì nên dùng thịt ếch” là cách giải thích liều, không hiểu gì về phong tục tập quán của người Việt. Mặt khác các liền anh, liền chị trong làng quan họ thì liên quan gì đến giỗ cha ?
Thực ra, câu tục ngữ này có hình thức là: Con họ thịt gà; giỗ cha thịt ếch. Cách phát âm của người Thanh Hóa, con phát âm gần giống như cu...ân (quân). Con họ tức là con cháu trong họ. Vì không hiểu con họ là gì nên người sưu tầm tục ngữ (hoặc soạn giả) chữa “quân họ” (con họ) thành “quan họ” rồi giảng sai hoàn toàn nội dung. Câu tục ngữ đang bàn nói cách cư xử trái với lẽ thường, đáng phê phán: Đối với hạng con cháu trong họ thì làm thịt gà thết đãi; đến khi giỗ cha mình (ngày rất quan trọng) lại làm thịt ếch để cúng. Dị bản: Có khách làm thịt kha (gà) giỗ cha làm thịt ếch.
Mưa rừng cọ; gió rừng thông
(Gặp) mưa trong rừng cọ cũng như gió trong rừng thông (thì chớ có lo ướt cũng như lo lạnh vì đã được cọ cũng như thông che chắn hết cho rồi).
-Giải thích như vậy là không hiểu.Thực ra, trong rừng cọ, chỉ cần mấy hạt mưa đã nghe tiếng lào rào, lộp bộp rất lớn do hàng ngàn giọt mưa rơi trên tàu lá cọ (lá cọ bản rộng, dày, cứng). Và trong rừng thông, chỉ cần thoảng làn gió đã nghe vi vút hoặc tiếng rít lên như muôn ngàn ngọn roi quật vào không khí, (do thông là cây lá kim). Thế nên thơ, nhạc hay ví thông reo, thông hát, thông ru là vậy. Câu tục ngữ trên đưa ra nhận xét: Tiếng mưa trong rừng cọ nghe rất lớn, tiếng gió trong rừng thông nghe rất mạnh (so với thực tế).
Nuôi lợn ăn cơm không; nuôi tằm ăn cơm nhộng
Nuôi lợn (chẳng mấy khó nhọc nên) chỉ được ăn cơm không có thức ăn; nuôi tằm (vốn khó nhọc) nên sẽ được ăn cơm với cả nhộng nữa.
 -Ý dân gian không ám chỉ nghề nào vất vả, khó nhọc hơn nghề nào, mà ý nói sự khác biệt giữa hai nghề. Nghề nuôi lợn giống như ống tiết kiệm, dồn mãi tới lúc đầy (lợn béo) mới xẻ thịt hoặc bán một lần duy nhất, không thể mỗi bữa xẻo ra vài miếng thịt mà nấu ăn dần. Tuy nhiên, đối với nghề nuôi tằm, mỗi lứa tằm vài ba tháng, tằm kéo kén ươm tơ có nhộng ăn, người nuôi được thu sản phẩm phụ, trong khi nuôi lợn ngày xưa cả năm mới được một lứa. Nghĩa là mối lợi của nghề nuôi tằm có thể khai thác dần, rải rác mà không cần phải đợi đến lúc ươm, dệt thành tơ lụa mới có
Rau cải làng Tiếu nấu nước điếu ăn cũng ngon
Rau cải (trồng ở ) làng Tiếu (vốn ngon tới độ chỉ) nấu với nước điếu thôi ăn vẫn cứ thấy ngon.
-Cách hiểu và diễn giải của soạn giả khi dùng “chỉ”, “thôi” trong câu khiến bạn đọc hiểu lầm “nước điếu” là loại nước lã bình thường (nấu món canh suông) nhưng khi có rau cải làng Tiếu để nấu thì ăn vẫn cứ thấy ngon. Tuy nhiên, nước điếu có mùi hôi, khắm, vị đắng chát rất khó tả. Lỡ đánh đổ chút ít ra nhà, đến cả người vốn nghiện thuốc lào cũng không chịu nổi cái mùi của nó. Nước điếu độc nên người ta còn dùng để tắm trừ ghẻ cho chó. Thế mà rau cải làng Tiếu thơm ngon, ngọt lành tới độ có thể hóa giải được cả nước điếu, khiến khi nấu canh rau cải với thứ nước “kinh khủng” đó, ăn cũng (vẫn) ngon. Đó là cách nói ngoa dụ. Như thế câu tục ngữ phải được diễn giải là: Rau cải làng Tiếu dẫu có nấu với nước điếu ăn vẫn ngon. Thông thường, một câu tục ngữ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa nào cũng phải đảm bảo tính biện chứng. Trong Từ điển tục ngữ Việt,soạn giả Nguyễn Đức Dương có hẳn một hạng mục (được ghi ngoài bìa sách) là “dịch” một số câu tục ngữ gốc Hán. Soạn giả không đưa ra phần nguyên văn chữ Hán, cũng không chú thích nghĩa từ vựng trong câu dẫn đến sai sót khá nghiêm trọng bởi hiện tượng đồng âm, dị nghĩa; đồng tự, đa nghĩa.Ví dụ:
Kỵ hổ nan hạ
Tránh mặt hổ thì khó mà hạ sát được nó.
-Thay vì dùng chữ kỵ  騎 là cưỡi, soạn giả lại đưa ra chữ “kỵ” 忌 là kiêng tránh, sợ; chữ hạ 下với nghĩa là xuống, lại được chọn hạ 下 với nghĩalà “hạ sát”. Thoạt nghe cũng có lý. Thế nhưng, giết hổ mà chọn cách đối mặt với hổ là hạ sách, là bất đắc dĩ. Người ta có thể “tránh mặt hổ” mà vẫn giết được hổ dễ dàng bằng cách đặt bẫy, đánh bẫy, nấp bắn. Vậy soạn giả nghĩ sao ? Cần trả lại nghĩa vốn có (đã đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân gian) là:Cưỡi lên lưng hổ thì khó xuống(hay nói Thế cưỡi hổ, hoặc Ở thế cưỡi hổ).
Lộng giả thành chân
Cái giả hễ cứ được mặt sức hành hoành thì dần dà rồi sẽ hóa thành cái chân.Hay dùng để nhắc mọi người đừng để cho cái giả mặc sức hoành hành nhằm tránh xảy ra tình trạng thực giả lẫn lộn.
- Chữ lộng弄 ở đây có nghĩa là giở thủ đoạn, lại được soạn giả hiểu nôm na là lộng hành rồi giải thích “Cái giả hễ cứ được mặt sức hoành hành thì dần dà rồi sẽ hóa thành cái chân”. Nghĩa này có thể chấp nhận được.Tuy nhiên, câu tục ngữ phải chữa lại là “Giả lộng thành chân” mới đúng với ngữ pháp tiếng Hán. Bởi vậy, câu tục ngữ “Lộng giả thành chân” phải được hiểu là: Dùng thủ đoạn biến giả thành thật. (Có khi chữ “lộng” cũng được dùng với nghĩa “đùa cợt”: Vờ đùa cợt để biến giả thành thật).
Lương y đa kỳ tật
Các viên thầy thuốc giỏi đa phần đều có lắm thói quen kỳ lạ.
-Chữ “tật” 疾 nghĩa là bệnh, “kỳ tật” 奇疾 là bệnh lạ, bệnh nặng, bệnh hiểm ác, nhưng bị soạn giả hiểu nôm na “kỳ tật” là “thói quen kỳ lạ”.
Thực tế, có nhiều thầy thuốc giỏi, chữa bệnh cho nhiều người nhưng chính mình lại hay bị những chứng bệnh nan y, bệnh lạ mà bản thân không khám, chữa cho mình được. Thế nên, câu thành ngữ này phải được dịch là: Thầy thuốc giỏi hay bị chứng bệnh (lạ) hiểm ác, nói đến sự trớ trêu của nghề thầy thuốc, “Dao sắc không gọt được chuôi”. Câu này cũng có thể được hiểu: Thầy thuốc giỏi thì phải đón nhận lắm con bệnh nan y.
Mệnh do ngã lập; phúc tự kỷ cầu
Số mệnh là do tự mình định đoạt lấy (chứ đâu phải do trời sắp xếp sẵn); phúc đức là do mình tự cầu xin lấy (chứ đâu phải do trời tự ý ban cho).
  -Nếu nói “phúc đức là do mình tự cầu xin lấy” chỉ có nghĩa không cần người khác cầu xin hộ, nhưng vẫn có nghĩa là bản thân mình không tự quyết định được mà phải đi cầu xin người khác mới có.
Như vậy, chữ “cầu” (求)ở đây phải được hiểu nghĩa là tìm, không thể  hiểu nghĩa là cầu xin như dịch giả nhầm lẫn. Câu tục ngữ được dịch là: Số mệnh tự ta định đoạt, hạnh phúc tự mình tìm lấy.
Trong sách có rất nhiều câu tục ngữ mang tính địa phương. Có lẽ do sưu tầm, tuyển chọn từ một số sách (không có phần giải thích) lại thiếu am hiểu thực tế nên soạn giả đã áp dụng phương pháp phi khoa học, đó là phỏng đoán, dẫn đến sai nhiều hơn đúng. Ví dụ:
Măng Kẻ Hếch [?] ; ếch Kẻ Chai [?]; khoai Chiềng Mỹ [?]
(Cá) măng (thì ít thấy nơi nào ngon như loại sống ở) Kẻ Hếch; ếch (thì ít thấy nơi nào béo như là loại sống ở) Kẻ Chai; khoai lang (thì ít thấy nơi nào bùi như là loại trồng ở) Chiềng Mỹ.
Trong câu có 3 địa danh thì cả 3 địa danh soạn giả đều (đặt dấu ?) tỏ ý không biết nó nằm địa phận tỉnh, huyện, xã... nào, đặc điểm gì làm nên câu tục ngữ ấy nhưng vẫn giải thích. Thử hỏi “măng” đây có đúng là  “cá măng” hay là măng tre, luồng ? “Khoai” là “khoai lang” hay là cá khoai ? Nếu “măng” được soạn giả đoán là cá măng, thì “khoai” cũng có thể là cá khoai lắm chứ ? Hoặc “ếch Kẻ Chai” liệu có phải ý nói “ếch béo” hay thực tế là nhiều ếch, hoặc ếch to mới đúng ? Cách làm này chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều trong sách Từ điển tục ngữ Việt.
Lạm dụng phương pháp phỏng đoán, tất có lúc phạm sai lầm không thể biện hộ. Ví dụ:
Bồ Bất Căng, năng [?] Kẻ Chè.
Bồ thì ít thấy ở đâu đan tốt như là Bất Căng; năng [?] thì ít thấy ở đâu làm khéo như là Kẻ Chè.
Ta thấy trong câu này, soạn giả không hiểu “năng” là cái gì nhưng vẫn “tự tin” giải thích “năng [?] thì ít thấy ở đâu làm khéo như là Kẻ Chè”. Hơn nữa, Bất Căng không phải chỉ nổi tiếng do “đan bồ tốt” mà là đất chuyên nghề đan lát; “bồ” chỉ là một sản phẩm đại diện khi nói về nghề đan ở đây mà thôi. Theo đó, Kẻ Chè cũng không chỉ được biết đến bởi nghề đúc “năng” (tiếng Thanh Hóa gọi cái nồi 2 bằng đồng là “năng”) mà sản phẩm này chỉ là ví dụ cho nghề đúc đồng nổi tiếng (nồi niêu, xoong, chảo, mâm, thậm chí cả... trống đồng) của làng Chè mà thôi.
Nem xứ Huế; quế xứ Thanh
Nem (thì ít thấy ở đâu gói ngon như ở) Huế; quế (thì ít thấy ở đâu lắm như ở) Thanh Hóa).
-Vẫn là đoán mò. Và cách giải thích này nghe ra rất có lý...đối với những người không biết ! Nhưng, quế Thanh Hóa nổi tiếng không phải do “ít thấy ở đâu lắm như ở” Thanh Hóa mà là không ở đâu tốt bằng Thanh Hóa. (Quảng Ngãi, Yên Bái, Nghệ An nhiều quế không kém gì Thanh Hóa). Quế Thanh (thường gọi là Quế Ngọc châu Thường-vùng đất huyện Thường Xuân ngày nay) được cổ kim đánh giá là tốt nhất bởi thứ tinh dầu đặc biệt của nó. Ngày xưa vua nhà Nguyễn thường dùng quế Thanh để ban thưởng cho các quan (xem Đại nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn)
Phần chú thích địa danh, rất nhiều câu soạn giả vẫn còn đặt dấu chấm hỏi (do chưa tìm hiểu, khảo cứu) khiến cho độc giả cảm tưởng, mình đang được đọc một bản thảo chưa hoàn chỉnh. Xin đưa ra một vài ví dụ:
Lê Chằm Vạc; Mạc Đại An
-Chú thích: “Chằm vạc dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã...[?], huyện...[?], tỉnh Hải Dương hiện thời. Đại An dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã ...[?] huyện Ý Yên/ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định hiện thời. (tr.511) Hoặc Đinh Cao Bộ; điền Khê Tang. Chú thích: “Cao Bộ dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã...[?], huyện...[?] tỉnh Hà Tây hiện thời. Khê Tang dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã...[?], huyện...[?] tỉnh Hà Tây hiện thời. Rồi Đinh Quảng Nguyên, điền Quảng Tái. Chú thích:“Quảng Nguyên dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã...[?], huyện...[?], Quảng Tái dt. Ngôi làng nằm trên địa phận xã...[?], huyện...[?], (tr. 335) v.v...
-Trong Từ điển tục ngữ Việt, mục “Nhận diện tục ngữ” Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương cho rằng có những sách “quá xem nhẹ chất lượng và bỏ ngoài tai lời khuyên của ông bà ta được đúc kết trong câu châm ngôn: “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Thế nhưng chính tác giả (không rõ do không phân biệt được thế nào gọi là dị bản, hay cố tình muốn cho sách dày thêm) dẫn ra quá nhiều những câu không đáng gọi là dị bản. Mặt khác giải thích đi, giải thích lại một câu đã quá rõ nghĩa là điều hoàn toàn không cần thiết. Xin được đưa ra một vài ví dụ:
Câu “Ao sâu béo cá; độc dạ khốn thân” được Nguyễn Đức Dương đưa ra tất cả 11 “dị bản”.Thế nhưng chúng ta phải đọc thật kỹ, thật chậm để so sánh mới phân biệt được chúng “dị’ ở điểm nào:
Ao sâu béo cá; độc dạ khốn thân
Ao mà sâu thì tôm cá ắt càng béo tốt; lòng dạ mà hiểm độc thì ắt phải chịu đủ mọi thứ khốn đốn ở đời. Hay dùng để khuyên mọi người hãy ăn ở cho nhân đức nhằm tránh phải hứng chịu mọi thứ khốn đốn ở đời.
Ao sâu béo cá, hiểm dạ hư thân
Ao càng sâu thì tôm cá ắt càng béo tốt; lòng dạ càng hiểm độc thì thân ắt càng trở nên hư đốn thêm. Hay dùng với ẩn ý nh. Ao sâu béo cá, độc dạ khốn thân.
Ao sâu tốt cá; độc dạ hư mình
Như Ao sâu tốt cá; độc dạ hư thân.
Ao sâu tốt cá; độc dạ hư thân
Ao càng sâu thì tôm cá ắt càng béo tốt; lòng dạ càng hiểm độc thì thân ắt càng trở nên hư đốn them. Hay dùng với ẩn ý nh. Ao sâu béo cá độc dạ khốn thân.
Ao sâu tốt cá; độc dạ khốn thân
Ao càng sâu thì tôm cá ắt càng béo tốt; lòng dạ càng hiểm độc thì thân ắt sẽ phải chịu đủ mọi thứ khốn đốn ở đời. Hay dùng với ẩn ý: nh. Ao sâu béo cá; độc dạ khốn thân.
Ao sâu tốt cá; hiểm dạ hư mình
Như. Ao sâu tốt cá; hiểm dạ khốn thân.
Ao sâu tốt cá; hiểm dạ hư thân
Nh. Ao sâu tốt cá; hiểm dạ hư mình.
Ao sâu tốt cá; hiểm dạ khốn thân
Ao càng sâu, thì tôm cá ắt càng béo tốt; lòng dạ càng hiểm độc thì thân ắt càng phải chịu đủ mọi thứ khốn đốn ở đời. Hay dùng với ẩn ý: nh. Ao sâu béo cá; độc dạ khốn thân.
Sâu ao lắm cá; độc dạ hư mình
Nh. Sâu ao lắm cá, độc dạ hư thân.
Sâu ao lắm cá; độc dạ hư thân
Ao càng sâu thì càng có lắm tôm cá; lòng dạ càng hiểm độc thì thân càng phải hứng chịu lắm điều chẳng may.
Sâu ao lắm cá; độc dạ khốn thân
Ao càng sâu thì càng có lắm tôm cá; lòng dạ càng độc ác thì thân càng phải hứng chịu lắm điều chua cay.
Cứ theo cách đảo từ, thay từ đồng nghĩa để tạo ra “dị bản” thì câu tục ngữ còn có thể nhân ra rất nhiều bản nữa, ví dụ:
Hoán từ tốt cá thành cá tốt, lắm cá thành cá lắm, đổi từ lắm cá thành nhiều cá…rồi lần lượt cho kết hợp với câu độc dạ, hiểm dạ, rồi lại hư thân, hư mình, khốn thân. Như  “Ao sâu cá tốt, độc dạ khốn thân” rồi “Ao sâu cá lắm, độc dạ khốn thân” hoặc “Sâu ao nhiều cá, độc dạ khốn thân”.
-Hoán từ  độc dạ thành dạ độc,hiểm dạ thành dạ hiểm rồi lần lượt cho kết hợp với câu có từ khốn thân, hư mình, hư thân,v.v…chúng ta sẽ có hàng trăm cái gọi là “dị bản” mà thực chất chỉ là cách dùng từ đồng nghĩa của người sử dụng câu tục ngữ mà thôi.
Chúng ta còn bắt gặp ở rất nhiều trường hợp khác:
Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt đất
Ăn kỹ lưỡng thì (bụng sẽ cảm thấy no lâu (vì đỡ mất công giành giật); cày cho sâu thì đất (dễ tơi xốp hơn, nên cũng dễ) tốt lên.
Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa
Ăn kỹ lưỡng thì bụng sẽ cảm thấy no lâu (vì đỡ mất công giành giật) cày cho sâu thì (đất dễ tơi xốp hơn nên) lúa cũng nhờ thế mà trở nên tốt hơn).
Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt ruộng
Ăn từ tốn thì bụng sẽ cảm thấy no lâu (vì miệng vẫn còn lưu giữ được mọi vị ngon của các thứ được ăn); còn cày sâu thì (đất dễ tơi xốp hơn nên) ruộng cũng nhờ thế mà trở nên tốt hơn.
 Nhân tiện xin nói luôn: cách giải thích mấy “dị bản” trên cũng để lại nhiều thắc mắc cho độc giả. Ví dụ: Vì sao hai bản đầu giải thích “Ăn kỹ no lâu” là vì “đỡ mất công giành giật” đến bản thứ ba cũng vẫn là “Ăn kỹ no lâu” lại được giải thích là “vì miệng vẫn còn lưu giữ được vị ngon...”  Hoặc sao lại “đỡ mất công giành giật”; ai “giành giật” với ai ?
Nhìn chung, với sách biên soạn, (đặc biệt là lĩnh vực tục ngữ, thành ngữ) khó tránh khỏi sai sót. Tuy nhiên, tỉ lệ sai sót, mức độ sai sót, hạn chế (số lượng hàng trăm câu) như Từ điển tục ngữ Việt của Nhà ngữ học TS Nguyễn Đức Dương là quá lớn. Nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ còn nhận thấy không ít lỗi về từ vựng, cách giải nghĩa, cách diễn đạt, từ ngữ,v.v...mà khuôn khổ bài viết này không thể nêu hết (*). Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương nhiều lần kêu gọi các nhà biên soạn sách giáo khoa đưa “di sản tục ngữ” vào nhà trường (xem Bài “Sao không đưa tục ngữ vào giảng dạy ở bậc tiểu học” - Báo Thanh Niên). Đề xuất này không có gì sai. Tuy nhiên, nếu các em học sinh tiếp thu “di sản tục ngữ” thông qua “kênh” Từ điển tục ngữ Việt của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương với những “sai lệch” như trên thì thật nguy hại !

                                                                                     H.T.C
 Một phần nội dung bài viết này đã đăng Tạp chí Văn hóa dân gian - Viện nghiên cứu Văn hóa số 4 tháng 8/2013).Bạn đọc có thể tham khảo thêm tại tuancongthuphong.blogspot.com.

Một số thông tin thêm
 Từ điển tục ngữ Việt - tác giả Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương - Trung tâm biên soạn từ điển Ngôi Sao - Ban biên soạn từ điển đơn ngữ - Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh - 2010.
Lời NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh: “Từ điển Tục ngữ Việt của nhà ngôn ngữ học - Tiến sĩ  Nguyễn Đức Dương là một công trình biên soạn công phu, hoàn toàn dựa theo những tiêu chí mới về cách thu thập dữ liệu, cũng như cách diễn giải từng câu tục ngữ trong các đề mục. Với quy mô và phương pháp nghiên cứu khoa học, cập nhật nội dung, có thể nói đây là quyển Từ điển tục ngữ Việthoàn chỉnh nhất hiện nay... một công trình nghiên cứu chuẩn hóa về tục ngữ Việt”. Lời người biên soạn: “Quyển Từ điển này khác với nhiều công trình cùng loại đã ra mắt bạn đọc trước đây ở hai điểm chính: (1) ở cách thức thu thập dữ liệu và (2) ở cách thức diễn giải dữ liệu...Quyển Từ điển này ra mắt bạn đọc được là nhờ sự giúp đỡ chí tình cả về tinh thần lẫn vật chất của GS. Cao Xuân Hạo, nhà khảo cứu An Chi, nhà giáo Hoàng Xuân Tâm, PGS Hoàng Dũng, PGS Bùi Mạnh Hùng”. Theo đó, Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương cho rằng Từ điển tục ngữ Việt sẽ tránh được những sai lầm “phải trả giá, lắm khi rất đắt” của một số cuốn từ điển khác.
- Những sách đã dẫn và tham khảo:
1,“Đại Nam quấc âm tự vị”(Dictionnaire ANNAMMITE) Huình Tịnh Paulus Của - Sài Gòn 1895.
2,Việt Ngữ Tinh nghĩa từ điển - Long Điền Nguyễn Văn Minh -NXB Quảng Vạn Thành- Hà Nội 6/1950.
3,Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam - GS Nguyễn Lân (NXB Văn Hóa - 1989)
4,Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức - Nhà in Trung Bắc Tân Văn - 1931 (bản Scan của vietnamtudien.org )
5, Từ điển An Nam-Lusitan-La tinh (Thường gọi Từ điển Việt - Bồ - La) Alexandre De Rhodes - Phiên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội - 1991.
6, Tự điển Hán Việt - Trần Văn Chánh -NXB Từ điển bách khoa-2011).
7, Điển Cố văn học - Đinh Gia Khánh chủ biên - Nhà XB Khoa học xã hội - Hà Nội 1977.
8, Hán Việt tự điển - Thiều Chửu - NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 2004.
9. Hán Việt Từ điển - Đào Duy Anh biên soạn - Hãn Mạn Tử hiệu đính - NXB Trường Thi - Sài Gòn 1957.
10. Khang Hy tự điển - 2002 (sách ngoại văn xuất bản tại Trung Quốc)
 







Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

VỀ ĐẠO TU TIÊN Ở THANH HOÁ Nhân đọc "Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh"(1)


                                                                                                               Hoàng Tuấn Công

Phía trước động Hồ Công
Viết về đạo tu tiên ở Thanh Hoá, sách "Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh" cho rằng: "Thanh Hoá hiện nay còn một số dấu vết đạo tu tiên khá rõ nét trong các làng quê. Các dấu vết còn lại, chứng tỏ đạo tu tiên đã một thời hoạt động rất tích cực ở xứ Thanh và có những tác động rõ rệt
tới văn hoá làng. Để chứng minh, tác giả cuốn sách căn cứ vào các địa danh "Quán" làm cứ liệu quan trọng: "Trước hết ở khắp các làng Thanh Hoá còn nhiều địa danh mang
tên quán: Quán Chua, Quán Trổ, Quán Giắt, Quán Cháo, Quán Nam... Cũng có người
giải thích, quán này là quán hàng tụ điểm thị dân sơ khai... Thế nhưng có những quán không hề dính đến quán hàng. Ví dụ Quán Học ở Rẻ Rỵ, Hội Quán ở thị xã Thanh Hoá. Chúng tôi nghĩ rằng các địa danh mang tên "quán" này đầu tiên là các "quán xá" một tụ điểm hoạt động của đạo tu tiên. Đó là "Đạo Quán" của các đạo sĩ "lang thang" trong các làng xứ Thanh... Họ lập Đạo quán sơ sài để tu hành và dần dần sau này biến thành tụ điểm trao đổi  hàng hoá, để đến khi đạo tu tiên nhạt hẳn thì các nơi này chỉ còn là quán hàng thực sự...".
Trước hết, nhà nghiên cứu đã nhầm lẫn giữa "quán xá" với "đạo quán". "Quán xá" nguyên nghĩa là nhà trọ, quán trọ, quán hàng sao có thể coi là "một tụ điểm hoạt động của đạo tu tiên" và đồng nhất "quán xá" với "đạo quán" được? Chữ "Quán" (Hán tự) mang nghĩa: nhà khách trọ, chỗ dạy học trò, nhà trạm viết giống nhau. Nhưng riêng chữ "Quán" (cũng đọc là Quan) với nghĩa là nhà của đạo sĩ ở lại viết khác hẳn. Hơn nữa, các địa danh mang tên "quán" mà tác giả coi là dấu vết "khá rõ nét" của đạo tu tiên từng "hoạt động rất tích cự ở xứ Thanh"  lại không phải nét đặc trưng, không riêng gì Thanh Hoá mới có. Ngược lại, địa danh "quán" phổ biến ở khắp các vùng từ Bắc chí Nam. Xin đơn cử: Ở Bắc Ninh có "chợ Đông Dư trên đê tục gọi Quán Gỏi. Quán Kiêu Kỵ: Quán xá đông đúc bán nhiều thịt trâu" (2) ở Nam Định có chợ Quán. Ninh Bình có chợ Quán Xá, Quán Lý Nhân. Vào Nghệ Tĩnh lại có Quán Hành, Quán Triều, Quán Hạ, Quán Trại Voi, Quán Bánh...Đi vào Nam, vùng đất Khánh Hoà cũng có tới hàng chục địa danh "Quán" như: Quán Phú Yên, Quán Chử Châu, Quán Lộc Dã, Quán Phúc Hải, Quán Vạn Dã, Quán Hà Thanh, Quán Cót...Ở Thanh Hoá riêng vùng ven đường quốc lộ 1A (tương ứng đường thiên lý xưa kia) cũng có hàng loạt địa danh Quán: Quán Am (thường gọi lầm Quán Nam), Quán Lưu Vệ, Quán Mít … Nếu chịu khó lục tìm các sách địa chí cổ ghi tên đất, tên làng của các địa phương sẽ thấy chữ Quán (Hán Tự) gắn với những địa danh kể trên đều mang ý nghĩa là quán chợ, quán hàng, quán trọ, quán dịch (nhà trạm) … Tôi đồng ý, “có những quán không hề dính dáng đến quán hàng. Ví dụ Quán Học ở Kẻ Rỵ, Hội Quán ở thị xã Thanh Hoá” mà soạn giả đã nêu. Nhưng rất tiếc “quán” này cũng chẳng dính dáng gì đến “đạo quán” của các “đạo sĩ lang thang trong các làng xứ Thanh “như” “KSLVHXT” đã lẫn suy diễn. Chữ “Quán” trong “Quán Học” ở Kẻ Rỵ  có nghĩa: chỗ dạy học trò, của nhà sử học Lê Văn Hưu (theo truyền thuyết địa phương). Còn chữ “quán” trong “Hội Quán”ở thị xã Thanh Hoá thường được gọi là “Chùa Hội Quán” vốn của bà con Hoa Kiều lập nên vào khoảng đầu thế kỷ này làm nơi hội họp đồng hương và thờ cúng theo tín ngưỡng riêng của họ, không hề liên quan gì đến người Việt. Hơn nữa, các địa danh “Quán” kể trên lại chỉ thấy ở các ngã ba, ngã tư, các trục đường giao thông, đường thiên lý, đường cái quan, nơi nhiều người hội tụ đông đúc, ồn ào đâu phải địa điểm phù hợp với nguyên lý “thanh tĩnh”, “vô vi” của các nhà tu hành đạo Lão.
Cứ liệu thứ hai mà “KSVHLXT” đưa ra là hình ảnh các ông Tu Nưa, Trịnh Phật Giác, ông tiên núi Nhồi. Nhưng đây cũng chỉ là những nhân vật trong truyền thuyết và chuyện kể dân gian, hình ảnh Tiên, Phật, Bụt nhiều khi được đồng nghĩa là một. Đó là những ông cụ “râu tóc bạc phơ tay chống gậy trúc” hay du ngoạn danh lam thắng cảnh, hiện lên giúp đỡ người nghèo, trừng phạt kẻ ác, được truyền tụng trong dân gian vô cùng phong phú. Do đó, nên hiểu cho đúng về những người đến các động Hồ Công, am tiên núi Nưa, chùa Tiên núi Nhồi… để cầu cúng nói chung không phải tín đồ của đạo tu tiên. Họ đâu có phân biệt thần tiên, thánh, trời, Phật mà bất kể am, động, chùa miếu đền nào nghe đồn linh thiêng thì đều đến cầu cúng (có tội phải vái thập phương…, hữu sự tất hữu cầu) mà thôi. Ngay chuyện người tiều phu núi Na hay Động Hồ Công với nhân vật Trịnh Phật Giác (có sách chép là Phí Trường Phòng) cũng chỉ mang dáng dấp “một hiền giả lánh đời thoát tục” sống thanh bần giản dị như một tiều phu ẩn sĩ chứ không có hoạt động truyền bá, giáo lý gì chứng tỏ họ lập đạo quán thu thập tín đồ rộng rãi. Chuyện ông Tu Nưa “chơi cho đời một vố” gồm “cả vua Hồ Hán Thương, vua Minh Mệnh” mà soạn giả nêu trong “KSVHLXT” chứng tỏ đây là nhân vật huyền thoại. Bởi ông Tu Nưa phải là người sống 3-4 trăm năm tuổi mới có thể gặp cả vua Hồ Hán Thương, vua Minh Mệnh hai triều đại cách xa nhau đến vậy.
Thực tế khi Đạo Giáo truyền sang nước ta, hoạt động và ảnh hưởng của nó hoàn toàn không giống nơi nó sinh ra mà tách chia làm hai phái: Phái tu tiên luyện thuốc “trường sinh bất tử” (Đan đỉnh phái) và Phái phù thuỷ (Pháp lục phái). Những cơ sở tu hành và truyền đạo của Đạo giáo ngay ở thời thịnh hành nhất như Lý - Trần vốn cũng đã không lấy gì làm sâu rộng, mạnh mẽ. Đến đời Lê, phái tu tiên càng thu hẹp phạm vi hoạt động hơn. Và Đạo Giáo chủ yếu chỉ tác động một phần tới đời sống của nhân dân ta bởi phái phù thuỷ thông qua các hình thức tín ngưỡng như sấm truyền, bùa phép, cầu cúng tróc quỉ trừ tà… ngày một trở nên thịnh hành khi triều chính suy đồi, xã hội loạn ly… Bởi vậy, trong khi đạo phù thuỷ in dấu ấn khá đậm tròn dân gian thì dấu vết đạo tu tiên lại quá mờ nhạt; các cứ liệu khoa học về tên tuổi và sự nghiệp của đạo sĩ thuộc môn phái này cũng rất hiếm hoi. Người ta chỉ có thể rút ra đượcc chút ít cốt lõi của các truyền thuyết, truyện kể dân gian, vài dòng trong sách xưa cho biết có một số ẩn sĩ đạo sĩ tu tiên có tính chất cá nhân, riêng lẻ, tu cho chính bản thân họ.
Do đó khẳng định “đạo tu tiên đã một thời hoạt động rất tích cực ở xứ Thanh và có những tác động rõ rệt đến văn hoá làng … làm phong phú thêm văn hoá làng xứ Thanh trên nhiều phương diện” như các soạn giả “KSVHLXT” nêu ra là không có cơ sở khoa học mà chỉ xuất phát từ sự suy diễn lầm lạc qua chữ “quán” không được hiểu đúng nghĩa.
9-1994

                   
1.     “ Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh”, NXB Khoa học xã hội – 1993 – Hoàng Anh Nhân chủ biên – Lê Duy Trâm biên soạn.
2.     Xem “Đại Nam nhất thống chí” mục “Chợ Quán”

3.     Chùa Hội Quán  nay là NXB Thanh Hoá, còn một số bức tượng thờ Quan Công, Trương Phi…

"THIÊN TÀI NGUYỄN DU" HAY TẬN CÙNG CỦA SỰ DUNG TỤC ?



                             Hoàng Tuấn Công

Trên tạp chí “Ngôn ngữ”-Viện ngôn ngữ học số 11-2007 có bài “Những liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa trong Truyện Kiều-Nguyễn Du” của Phan Thị Huyền Trang. Bài viết đã táo bạo mở ra hướng tiếp cận, khám phá cái mới trong  vườn hoa ngôn ngữ của Truyện Kiều-mảnh vườn mà nhiều nhà “Kiều học”, nhiều “tín đồ” của ngôi đền thơ “Đoạn trường tân thanh” đã cày xới, chăm sóc rất kỹ ngót mấy trăm năm qua.
Theo Phan Thị Huyền Trang thì “dưới cách tiếp cận ngôn ngữ-văn hoá, bài viết này sẽ đi sâu phân tích, lý giải sự lan toả ý nghĩa của từ hoa từ tâm ra ngoại vi, cũng như sợi dây gắn kết về ngữ nghĩa từ ngoại vi hướng về tâm”.


 Sau khi phải khá mệt mỏi bơi theo dòng “trường giang ngôn ngữ” của 10 trang viết với những tầm chương trích cú, lý luận kinh viện, cái mới mà độc giả được tiếp cận lại chính là sự tận cùng dung tục, thô lỗ hoá ngôn ngữ Truyện Kiều của tác giả Phan Thị Huyền Trang. Xin có đôi lời trao đổi cùng Phan Thị Huyền Trang và độc giả qua mấy đề mục:

1. “ Cái hay thì không mới...”:
Phan Thị Huyền Trang đưa ra 5 nghĩa của từ “hoa” mà Đào Duy Anh đã giải thích trong Truyện Kiều và chỉ ra cái hạn chế của học giả Đào Duy Anh “do cách tiếp cận thiên về từ vựng-ngữ nghĩa của một người làm từ điển, tác giả Đào Duy Anh chỉ nhấn mạnh đến các ý nghĩa cơ bản được cố định hoá của từ hoa, những ý nghĩa giúp cho nó có chỗ đứng trong hệ thống. Còn các tầng nghĩa biểu trưng, các sắc thái biểu cảm cũng như sự lan toả ngữ nghĩa tinh tế-cái tạo nên linh hồn ngữ nghĩa của từ hoa lại chỉ được nhắc đến một cách sơ sài : “thường dùng để tỉ dụ người đẹp, sắc đẹp, tình yêu...Vì vậy, chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ là: cần phải soi sáng đặc điểm ngữ nghĩa của từ hoa dưới một góc độ khác, góc độ ngôn ngữ -văn hoá”.
Vậy, dưới “góc độ ngôn ngữ văn hoá” Phan Thị Huyền Trang đã “soi sáng” được những gì?
Chúng ta đều biết, phong, hoa, tuyết, nguyệt,...là những hình ảnh rất quen thuộc, phổ biến trong thơ ca xưa. Riêng hình tượng bông hoa được so sánh, ẩn dụ với sắc đẹp, thân phận người phụ nữ  đã trở nên quá quen thuộc, cả trong văn học viết, văn học dân gian, lẫn ngôn ngữ thường ngày như: mặt hoa da phấn, tươi như hoa, đẹp như hoa, như hoa mới nở, như hoa sắp tàn, như hoa sớm nở tối tàn, như cánh hoa bị vùi dập, gót hoa, trướng hoa, thềm hoa v.v...Hoa trở thành ý nghĩa tượng trưng cho cái đẹp, sự cao sang, trong sáng và muôn hình vạn trạng trong cách ví von, ẩn dụ khác. Bởi vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong số hơn ba ngàn câu Kiều, Phan Thị Huyền Trang đã dày công đếm được tất thẩy 133 lần xuất hiện từ hoa với nhiều ý nghĩa khác nhau. Phan Thị Huyền Trang nên hiểu rằng, phần nhiều thơ ca xưa đều vận dụng lối “tỉ dụ” để giãi bày, sáng tác. Do đó, lấy hình tượng hoa để biểu thị nét mặt, tâm trạng, thân phận, tình yêu... không phải điểm đặc biệt, duy nhất của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Thậm chí, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du mới chỉ vận dụng một phần nhỏ ý nghĩa ẩn dụ của hoa trong vô vàn cách nói của dân gian. Câu ca dao: Em như một đoá hoa nhài. Canh khuya hé nở chờ ai bên tường, hoa nhài ở đây là hình ảnh một người con gái đáng chê. Nhưng câu ví Như bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu, hoa nhài  lại là một thân phận vừa đáng chê lại vừa đáng thương, đáng tiếc. Hay câu Thân em như hạt mưa sa, Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa, hoa ở đây chỉ nơi chốn cao sang, sung sướng, hạnh phúc. Câu thành ngữ “Mãn nguyệt khai hoa” hoa ở đây lại chỉ sự sinh nở v.v và v.v... Với văn học viết, chỉ xin lấy “Chinh phụ ngâm” (bản diễn ca cũng như nguyên tác) làm ví dụ. Mặc dù nhân vật chính không phải là thân phận bông hoa bị dập vùi, trôi nổi như Kiều, nhưng, hình tượng hoa với lối so sánh ẩn dụ vẫn xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm thơ cổ này:
“Rượu cùng hoa rắp tã đàm
Sầu làm rượu lạt, muộn làm hoa ôi”
Hay:
“Ngừng nhan sắc đương chừng hoa nở
...       
Đôi hoa cùng nở đôi cây cùng liền...
Thậm chí từ hoa còn khá “đậm đặc”:
“Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng vì tại bóng dương
Hoa vàng, hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần”(1)
Không bằng lòng dừng lại ở cách giải thích của học giả Đào Duy Anh, Phan Thị Huyền Trang đưa ra một số đề mục rất “mùi mẫn” như: “1.Hoa-hiện thân của sự sống, 2. Hoa-thiên đường của mặt đất, 3.Hoa phút giây thoáng chốc, 4.Hoa-thực thể thụ động”,v.v...với những dòng phân tích, tán thưởng về hoa “tràng giang đại hải”. Tất cả những điều đó đã được học giả Đào Duy Anh giải thích khái quát, đầy đủ trong Từ điển Truyện Kiều, và loài người, mọi người đã nói cách đây cả...ngàn năm, trăm năm rồi.
Vẫn là những ngộ nhận, Phan Thị Huyền Trang viết: “Hoa thường được gán cho thiên tính nữ nên người ta thường liên tưởng với người con gái đẹp. Nhưng tài tình của Nguyễn Du là ở chỗ trong Truyện Kiều ta còn thấy đối tượng hoa ngầm chỉ không phải thuộc phái đẹp mà còn có thể thuộc phái “mày râu”:
Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
442.Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Thật bất ngờ đối với người đọc và cơ chế liên tưởng ở đây dường như đã đi ra ngoài khung liên tưởng thông thường. Có thể hình dung ra mô hình liên tưởng như sau:
Hoaà tình yêu, tình cảm đẹp, cao quý à người yêu, đối tượng có tình cảm đẹp ấy à Kim Trọng, đối tượng cụ thể”.
Thực ra, những liên tưởng ấy về từ hoa trong câu thơ đã nằm trong cách giải thích thứ nhất về hoa của Đào Duy Anh mà chính Phan Thị Huyền Trang đã trích dẫn và chê là sơ sài. Đó là hoa “thường dùng để chỉ người đẹp, sắc đẹp, tình yêu”. Trong câu  “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”, từ hoa ở đây chỉ có thể hiểu là “tình yêu” mà thôi (Vì tình yêu nên phải đánh đường tìm tình yêu). Bằng không, nếu hoa trong câu thơ trên nói về một giới “mày râu”, cụ thể là Kim Trọng (Vì Kim Trọng nên phải đánh đường tìm Kim Trọng) như cách liên tưởng của Phan Thị Huyền Trang, điều đó cũng không có gì là “bất ngờ”, “tài tình”, độc đáo và mới lạ trong Truyện Kiều. Bởi từ hoa, hình  ảnh hoa, đã lâu  không chỉ là đặc quyền khi nói về cái đẹp của người phụ nữ. Từ hoa đã mang một nghĩa bao hàm, tượng trưng khi nhắc đến tất cả những gì, (con người, sự vật hay hiện tượng) có phẩm chất, hình thức tốt đẹp: hoa tay, bút hoa, thềm hoa, chiếu hoa,v.v..,Trong “Chinh phụ ngâm” cũng đã dùng “mặt hoa” để chỉ Phan Lang-một anh chàng, một “mày râu”  đẹp trai có tiếng trong điển tích xưa:
Mặt hoa nọ gã Phan Lang
Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng
 Nói tóm lại, với phần “soi sáng” rất công phu dài dòng trên đây, Phan Thị Huyền Trang không hề tìm được điều gì mới mẻ như cách đặt vấn đề hùng hồn đầu bài viết. Ngược lại tác giả đã bộc lộ những ấu trĩ không đáng có trong một bài nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều.

2. “ Cái mới thì không hay”:
Với đề mục thứ 5 “Hoa-bộ phận cơ thể người phụ nữ”-sự ngộ nhận, non kém về ngôn ngữ, hay sự dung tục trong ý nghĩ của Phan Thị Huyền Trang đã đẩy ngôn ngữ truyện Kiều đến tận cùng của sự thô lỗ. 
Thoạt tiên, Phan Thị Huyền Trang ca ngợi “Một ý nghĩa biểu trưng khá thú vị của hoa trong Truyện Kiều là: hoa tương ứng với bộ phận làm đẹp của người nữ giới. Hoa là miệng xinh:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Hoa là mặt đẹp:
Lại càng ủ dột nét hoa”
Như trên đã nói, ví miệng người con gái cười tươi, xinh như hoa, vẻ mặt như hoa không phải là sáng tạo chỉ có trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Do đó không cần tác giả làm rối rắm thêm vấn đề bằng những kết luận như “Sự tương tác giữa hoa với các từ xung quanh đã đẩy ngữ nghĩa của từ hoa đi từ trường thiên nhiên sang trường bộ phận con người”. Không hiểu “trường thiên nhiên” và “ trường bộ phận con người” là thuật ngữ gì mà nghe lạ tai vậy?
Kinh ngạc hơn, tác giả viết tiếp: “Thêm vào đó, trong Truyện Kiều, hoa còn tượng trưng cho bộ phận sinh dục của người phụ nữ, (H.T.C nhấn mạnh) là sự sống xuất hiện trên khoảng mênh mông của vùng nước khởi nguyên, kết hợp với mùi hương nồng nàn mà dịu ngọt, hoa tự thân đã có tính thái âm và nữ tính. ý nghĩa tượng trưng này được Nguyễn Du cảm nhận thực là sâu sắc:
Tiếc thay một đoá trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Trà mi là loại hoa nở vào cuối xuân đầu hạ, nó đẹp bởi sự tinh khiết thuần tuý. Trà mi thường được sử dụng trong văn thơ để tỉ dụ người con gái đẹp, nhưng để chỉ âm hộ của người phụ nữ thì ít ai như Nguyễn Du”. Than ôi! “ít ai như Nguyễn Du” hay chỉ độc nhất vô nhị Phan Thị Huyền Trang có cách nghĩ và cách cảm thô thiển như vậy?
Cái cớ mà tác giả dựa vào để “liên tưởng” là căn cứ vào một số ý kiến về “biểu tượng hoa sen trong văn hoá phương Đông và hoa huệ tây trong văn hoá phương Tây” của một vài học giả phương Tây. Sau khi tán tụng hình ảnh hoa sen “trong tranh hình Ai Cập”, tác giả kết luận “Trong văn hoá ấn Độ và Trung Hoa, tầm quan trọng về ý nghĩa biểu tượng của hoa sen, về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này”. Và Phan Thị Huyền Trang mạnh dạn gán cho cụ Nguyễn Du một khả năng tư duy “thiên tài” đáng xấu hổ : “Từ sự liên tưởng hoa trà mi với âm hộ người phụ nữ, Nguyễn Du đã chạm tới mẫu gốc thiêng liêng trong văn hoá nhân loại. Đồng thời, với sự gán ghép phạm trù tự nhiên sang phạm trù con người, phải chăng Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-mặt-âm hộ. Vẻ đẹp thiên nhiên tựa như thứ nhạc nền để một hoà tấu cất lên, để ấn tượng về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn. Những trường hợp hoa mang ý nghĩa  biểu tượng này tuy không nhiều nhưng thực sự có giá trị, vì nó là cái riêng, cái dấu ấn độc đáo của thiên tài Nguyễn Du”
Xin thưa rằng ý nghĩa về sự sinh sản, sinh dục, tái sinh, phồn thịnh, mẫu gốc của các loài hoa mà Phan Thị Huyền Trang trích dẫn của mấy ông Tây mang tính biểu tượng, tín ngưỡng của từng dân tộc, nó khác hoàn toàn với sự liên tưởng cụ thể “đoá trà mi” với “bộ phận cơ thể người phụ nữ”, với “âm hộ” mà Phan Thị Huyền Trang phát hiện.
 “Tiếc thay một đoá trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về” là hai câu thơ rất hay trong truyện Kiều. Nó không chỉ hay và nổi tiếng bởi ghi lại dấu mốc quan trọng nhất, thời khắc nghiệt ngã, xót xa nhất khi Mã Giám Sinh đã biến nàng Kiều từ một người con gái trong trắng, tiết trinh, trở thành một người đàn bà “Thân nghìn vàng để ô danh má hồng”. Sau “tiếng kêu đứt ruột” đầu tiên này, nàng Kiều sẽ tiếp tục bị đẩy dài trong kiếp đoạ đầy thân xác và tâm hồn. Hai câu thơ còn nổi tiếng và hay bởi sự diễn đạt nhẹ nhàng, ý nhị, kín đáo mà gợi nên xiết bao đau đớn, tiếc nuối cho nàng Kiều. Nguyễn Du không viết Tiếc thay cái nhuỵ trà mi mà dùng chữ “một đoá trà mi”. Chữ “đoá” là một từ Hán-Việt, nghĩa gốc là một chùm hoa. Khi Việt hoá, từ “đoá” được hiểu chung là một bông hoa dưới cái nhìn tổng thể (bao gồm cuống hoa, đài hoa, cánh hoa, nhuỵ hoa ,v.v...) Do đó, “một đoá” ở đây không nhằm chỉ một bộ phận riêng biệt, cụ thể nào của bông hoa nên cũng không thể liên tưởng đến một bộ phận cụ thể nào đó của người (phụ nữ-nàng Kiều).  Hình ảnh “đoá trà mi” trong câu thơ Nguyễn Du chính là (và không chỉ là) vẻ đẹp sắc sảo mặn mà khiến Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh của nàng Kiều. Cao hơn, đoá trà mi còn tượng trưng cho vẻ đẹp về phẩm chất, tâm hồn của Kiều: Sắc đành hoạ một, tài đành hoạ hai, Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm...
 Nói tóm lại đoá trà mi chính là con người, cuộc đời, vẻ đẹp đang độ rực rỡ nhất của nàng Kiều. Dù kém cỏi đến đâu, (thiên tài lại càng không thể) cũng không có nhà thơ nào lại “ngây” đến mức dùng đoá trà mi để chỉ cái cụ thể là “âm hộ của người phụ nữ” (ở đây là nàng Kiều) như cách cảm nhận của Phan Thị Huyền Trang. Kính lạy cụ Nguyễn Du (cụ có hứa tha tội thì con mới dám nói), nếu hiểu đoá trà mi là “âm hộ của người phụ nữ” như nghiên cứu của Phan Thị Huyền Trang, thì con cũng xin mạo muội  hỏi rằng: chắc hẳn “con ong đã tỏ đường đi lối về” kia chính là dương vật của người đàn ông chứ(?!). Và hỡi ôi! Cái hành động cưỡng đoạt tiết trinh, thân xác nàng Kiều của “giống hôi tanh” Mã Giám Sinh chính là liên tưởng “về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn”, là “ Nguyễn Du đã chạm tới một mẫu gốc thiêng liêng trong văn hoá nhân loại” hay sao (?!)
Để minh hoạ cho việc “Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-âm hộ”, trong bài viết, Phan Thị Huyền Trang đã vẽ bông hoa năm cánh, trong đó có một cánh biểu thị cho “bộ phận cơ thể người phụ nữ” (âm hộ) và kết luận: “Như vậy là từ cách nhận thức ngữ nghĩa truyền thống của từ hoa qua Từ Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh, chúng ta còn có cơ sở để nhận thức thêm những tầng nghĩa hàm ẩn, những lớp nghĩa lan toả đầy thú vị của hoa dưới  góc độ ngôn ngữ-văn hoá(?!)


Hình minh họa của Phan Thị Huyền Trang, trong đó có 1 cánh hoa được đặt tên là "bộ phận cơ thể người phụ nữ" tức là cái "âm hộ" của nàng Kiều.

Rõ ràng, cái mà Phan Thị Huyền Trang gọi là “tầng nghĩa hàm ẩn”, “lan toả đầy thú vị của hoa dưới góc độ ngôn ngữ văn hoá”, rất thô tục và không thể chấp nhận ở bài viết của một người chuyên nghiên cứu ngôn ngữ.

3. Bài viết sai về phương pháp luận, thiếu thống nhất  khoa học:
Chúng ta đều biết, trong truyện Kiều, ngay cả khi không nhắc đến từ “hoa”, cụ Nguyễn Du vẫn viết về hoa rất hay, rất đẹp :
“Điệu buồn như cúc, điệu gầy như mai
....
Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành,
....
 Một tay chôn biết mấy cành phù dung”
 v.v...
Nếu đã đặt vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật vận dụng hình ảnh, biểu tượng của hoa trong Kiều, những câu thơ nói về hoa mà không có từ hoa như trên của Nguyễn Du không thể gạt bỏ. Tuy nhiên, Phan Thị Huyền lại máy móc chỉ “liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa” và “lí giải sự lan toả ý nghĩa của từ hoa”. Do đó tác giả đã thống kê cả những từ “hoa” với tư cách là yếu tố cấu tạo từ: tài hoa, hào hoa, phồn hoa (7 trường hợp). Hoa với tư cách là từ nhân danh : con Hoa, Hoa Nô (4 trường hợp)”. (Điều này chỉ có ý nghĩa ở những cuộc thi hát, đố nhau tìm những câu thơ, bài hát có từ “hoa”) Sau đó, tác giả kỳ công ngồi đếm số lần xuất hiện từ “hoa” trong Truyện Kiều rồi “chẻ sợi tóc làm tư”, dùng máy tính để thưởng thức Kiều, kiểu như: “có tới 31 trường hợp quy chiếu của hoa là thiên nhiên (chiếm 25.4%)...có tới 49 trường hợp từ hoa quy chiếu đến người con gái đẹp (chiếm 40.2%)...ta thấy hoa chủ yếu đóng vai trò là tân ngữ (chiếm 48.3%). Còn nếu xét các vai nghĩa mà từ hoa biểu thị, ta cũng thấy chiếm tỉ lệ cao nhất là vai bị thể (42/122 trường hợp, chiếm 34.4%)”,v.v...? Tuy thống kê chính xác tới 0,...%, nhưng Phan Thị Huyền Trang không hề có kết luận hay nhận xét sự “quy chiếu” ấy, phần trăm ấy có ý nghĩa như thế nào trong Truyện Kiều.
Nêu ra tiêu chí chỉ chọn những từ  “hoa” để liên tưởng, nhưng chính Phan Thị Huyền Trang lại bất ngờ phá vỡ nguyên tắc đã được giới hạn ấy và chọn ngay một câu thơ  không hề có từ hoa để phân tích, làm nội dung cơ bản của bài viết:
“Tiếc thay một đoá trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về”
Đoá là đoá mà hoa là hoa! Chỉ với chi tiết này chúng ta cũng có thể kết luận, bài viết rất tuỳ tiện, thiếu phương pháp luận, thiếu tính khoa học.
Phần giới thiệu đầu bài viết cho ta biết, Phan Thị Huyền Trang công tác tại Khoa ngôn ngữ, Đại học khoa học xã hội nhân văn. Truyện Kiều là một tác phẩm có chỗ đứng đặc biệt quan trọng đối với bất cứ một sinh viên khoa ngôn ngữ Việt nào.  Nhưng với cách cảm nhận dung tục, thô lỗ như Phan Thị Huyền Trang, liệu những sinh viên sẽ học được gì ở Truyện Kiều- tác phẩm xưa nay là niềm tự hào của dân tộc về sự phong phú và trong sáng của tiếng Việt ?
                            Hoàng Tuấn Công

                                                Bài đã đăng trên Tạp chí Xứ Thanh năm 2007

         
Chú thích:
(1) Chinh phụ ngâm-Hán nôm hợp tuyển-NXB Thuận Hoá-2000




Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

“THÀNH NGỮ CÁCH NGÔN GỐC HÁN”- CUỐN SÁCH DÙNG TRONG NHÀ TRƯỜNG CÓ NHIỀU SAI SÓT

Hoàng Tuấn Công

Trong một nhà sách tự chọn ở Thành phố Thanh Hoá, tôi tìm thấy cuốn “Thành ngữ cách ngôn gốc Hán” của Nguyễn Văn Bảo-Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội-1999. Sách tập hợp 725 câu thành ngữ cách ngôn thường dùng, với nhiều tên tuổi, học vị đáng nể xuất hiện trong phần giới thiệu, hiệu đính. Tuy nhiên, khi về nhà, có thời gian xem lại, tôi ngạc nhiên bởi cuốn sách có quá nhiều sai sót, non kém. Việc giải thích nhiều câu thành ngữ chứng tỏ tác giả chỉ hiểu lờ mờ, nên dịch sai, dùng sai...Thậm chí tôi có cảm tưởng chính tác giả cũng không hiểu thành ngữ nói gì nhưng vẫn giải thích bừa. Xin liệt kê sự sai sót làm mấy loại:
1.Dịch sai, hiểu sai nguyên văn chữ Hán:
-Câu “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Chữ “tứ mã” Nguyễn Văn Bảo dịch là: “ngựa tứ” là chưa chính xác. Bởi chỉ có “ngựa kỳ”, “ngựa ký” và chữ “tứ” là cỗ xe bốn ngựa chứ không có giống ngựa nào là “ngựa tứ”. “Tứ mã” ở đây là  cỗ xe bốn ngựa, chỉ sức mạnh, nhanh của bốn ngựa hợp lại. Lời đã nói ra thì sức mạnh của 4 con ngựa cũng không thể kéo lại, đuổi theo được.
 -Câu “Vong dương bổ lao”, phần giải tích từng từ, tác giả viết “Dương: con bò”. Điều đó sai hoàn toàn. Chúng ta đều biết, “dương” nghĩa là con dê. “Vong dương bổ lao”  nghĩa là “Mất dê mới làm chuồng”. Đây là câu thành ngữ gốc Hán. Trung Quốc ở về xứ lạnh, do đó, xưa kia con bò không phải là vật nuôi phổ biến ( bởi loài bò không chịu được giá rét). Con dê mới là vật nuôi đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá của họ(1). Người Trung Quốc không có chữ riêng để chỉ con bò mà mượn chữ “hoàng ngưu”= con trâu (lông) vàng để chỉ con bò, thuỷ ngưu để chỉ con trâu (loài vật thích đầm mình dưới nước). Không thấy tài liệu hay từ điển nào lấy chữ “dương” = con dê để chỉ con bò. Mặc dù mượn văn tự Hán, nhưng người Việt không gọi con bò là “hoàng ngưu”, mà sáng tạo ra chữ “lao”  (牢) để chỉ con bò.(2) Câu thành ngữ gốc Hán“Vong dương bổ lao” (Mất dê mới làm chuồng) được Việt hoá thành “Mất bò mới lo làm chuồng” cho phù hợp. Bởi vì con bò là vật nuôi phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá  của làng quê Việt Nam.
-Khi giải thích tứ đức: “Công dung ngôn hạnh” Nguyễn Văn Bảo cho rằng “công” ở đây có nghĩa là “công việc làm ăn” (!). Thực ra “công” trong “Công, dung, ngôn hạnh” nghĩa là sự khéo léo của người con gái. Có lẽ ông Bảo hiểu lầm và cho rằng tiêu chuẩn của người con gái, người vợ là phải có “công việc làm ăn” ổn định (!) ?
-Câu “Hiếu tử sự thân”, phần giải nghĩa từng từ, ông Bảo cho rằng “sự” ở đây có nghĩa “sự việc” là sai. Bởi, chữ “sự” trong câu “hiếu tử sự thân” nghĩa là thờ phụng (Con có hiếu phải thờ phụng cha mẹ).
-Câu “Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”,phần giải nghĩa từng từ, ông Nguyễn Văn Bảo viết “Tương trì: con trai (nhuyễn thể)”. Sai! Hai chữ “tương trì” có nghĩa là níu kéo, nắm giữ lấy nhau, chỉ việc con cò mổ vào ruột con trai, con trai khép vỏ lại, ông lão bắt cá dễ dàng chộp được cả hai.
-Câu “Bàng nhược vô nhân”. (Coi như không có ai ở bên mình) Chữ “bàng” có nghĩa là ở bên, bên cạnh. Nhưng phần giải nghĩa từng từ, (thật không thể hiểu nổi) ông N.V.B lại viết “Bàng” là “bàng quang”-một bộ phận trong hệ bài tiết của động vật có vú (!)
2.Giải thích sai ý nghĩa câu thành ngữ:
-Câu “Nhất tiếu thiên kim” (Nụ cười đáng nghìn vàng), xuất phát từ tích U Vương vì muốn có được nụ cười của nàng Bao Tự mà tìm đủ mọi cách như đem hết vải vóc trong kho ra để hàng ngày xé cho Bao Tự nghe, rồi đốt lửa làm hiệu lệnh giả như có giặc đến để các nước chư hầu đến ứng giúp, cuối cùng Bao Tự đã mỉm cười. Đến khi có giặc thật, U Vương đốt lửa gióng trống nhưng không một nước nào tới cứu viện. U Vương phải bỏ mạng vì đơn thương độc mã. Câu thành ngữ ý nói việc phải trả giá quá đắt cho một hành động điên rồ của kẻ hiếu sắc, đồng thời cũng nói lên cái sức mạnh ghê gớm của sắc đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành” có thể làm hỏng cả cơ đồ, sự nghiệp. Nhưng ông N.V.B lại cho rằng “Nhất tiếu thiên kim” là một lời khen đối với người phụ nữ đẹp và ông giải thích: “Khi đã khen người phụ nữ là “Nhất tiếu thiên kim” thì người ta cũng coi cái đẹp của người đó chỉ là mua bán”.(?) (!)
- Câu “Nhất tự đáo công môn, thiên ngưu khiên bất  xuất”. Có nghĩa: một chữ đã đưa đến cửa quan thì sức ngàn con trâu kéo cũng không ra. Ý nói, khi đã trót đệ đơn kiện lên quan, thì không có cách gì có thể rút lại được, dù chỉ một chữ. Bởi vì quan lại tham lam, thường vin vào các đơn kiện để bắt bẻ từng chữ nhằm đòi ăn của đút, không của nguyên đơn thì bị đơn (thành ngữ Việt Nam có câu “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”). Câu thành ngữ trên nhắc nhở người ta nên thận trọng khi đệ đơn lên quan, bởi kiện tụng chỉ thêm khốn đốn. (Cho nên người Việt Nam thường nhắc nhau: “Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc”). Thật khó hiểu, ông N.V.B lại đưa ra cách giải thích rất xa lạ và hoàn toàn không có cơ sở: “Đơn từ khiếu kiện của người dân, khi đã gửi đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết thì không có trở lực gì làm cho tác dụng của những đơn từ ấy thành vô dụng”(?!) Và ông lấy ví dụ : “Bác đã gửi đơn khiếu nại lên cấp trên rồi thì rất yên tâm, nhất tự đáo công môn, thiên ngưu khiên bất xuất. Sớm muộn gì cũng được giải quyết” (?!)
- Câu “Kim thị tạc phi” nghĩa là ngày hôm nay là đúng, ngày hôm qua là sai. Ý nói phải có sự linh hoạt trong việc nhìn nhận, đánh giá sự vật hiện tượng. Ví như có những giá trị đạo đức, hay quan niệm, lối sống, sự việc, luật lệ,v.v... luôn thay đổi theo hoàn cảnh, thời cuộc, ngày hôm nay cho là đúng, nhưng ngày hôm trước lại quan niệm là sai. Rất kỳ lạ, ông NVB lại giải thích: “Hiện nay là đúng, những ngày qua là sai. Hàm ý hối tiếc.” Không hiểu ý tác giả nói “hối tiếc” cái gì?
- Câu “Khẩu tụng tâm duy” (miệng đọc, lòng suy nghĩ). Chữ “tụng” có nghĩa là đọc thuộc. Ý nói người đọc không chỉ thuộc làu làu, đọc một cách vô thức, mà thành tâm, vừa đọc vừa suy nghĩ về ý nghĩa, đạo lý của điều mình đang đọc (như tụng kinh, niệm Phật). Thật bất ngờ và khó hiểu, ông NVB lại giải thích “Khẩu tụng tâm duy” là “Không thực lòng” và lấy ví dụ: “Đã là người khẩu tụng tâm duy thì không nên trở thành bạn hữu”.Không hiểu câu ví dụ này ông lấy ở đâu hay tự mình nghĩ ra rồi nói bừa lấy được?
-Câu “Sở quốc vong viên, hoạ diên lâm mộc”. (nước Sở mất con vượn mà hoạ lây đến cả cây rừng) Do tích: Vua nước Sở mất con vượn quý, tìm mãi không thấy, liền ra lệnh chặt trụi hết rừng cây để vượn không có chỗ trú sẽ trở lại với vua. Ý nói đến những tai hoạ khôn lường, tai bay vạ gió, những kẻ tưởng chừng không liên quan gì cũng phải hứng chịu (hoạ diên lâm mộc=hoạ lây đến cây rừng). Thành ngữ cũng hàm ý về quyền uy quá lớn của một con người sẵn sàng làm tất cả, để đạt được ý muốn cá nhân. Không hiểu sao, ông NVB lại giải thích rằng: “Báo cho mọi nơi không ai chứa chấp. Đói không nơi nương tựa rồi sẽ phải về”.(?!) Lấy điển tích làm tục ngữ mà không giải thích, đưa ra nguồn gốc điển tích liệu học sinh nào hiểu được ?
-Câu “Duy ngã độc tôn”. Ông Nguyễn Văn Bảo đã đúng khi dịch là “Chỉ có ta là tôn quý”. Tuy nhiên ông đã sai lầm khi giải thích đó “là lời nói của Phật Thích Ca “thái độ duy kỷ, chỉ biết tôn trọng mình mình”. Lẽ nào ông không biết câu chuyện Phật Thích Ca khi mới sinh ra, bước đi 7 bước và nói như sư tử gầm: “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quý) ? Câu nói như lời “tự sấm” báo hiệu trên thế gian sẽ xuất hiện một nhân vật siêu quần. Câu “Duy ngã độc tôn” không phải nguyên văn lời Đức Phật, và được dùng với cách hiểu hoàn toàn khác. Do đó với cách dùng, cách hiểu“thái độ duy kỷ, chỉ biết tôn trọng mình mình” không thể chú giải là lời Phật Thích Ca được. Nếu theo cách giải thích của ông Bảo, hoá ra, chính Phật Thích Ca tự lên án “thái độ duy kỷ, chỉ biết tôn trọng mình mình” của Đức Phật hay sao?
3.Giải thích không rõ ý, tiền hậu bất nhất:
-Câu “Lão sinh thường đàm” sau khi giải nghĩa hai từ “lão sinh” là “người học trò già”, ông N.V.B lại giải thích cả câu“Lão sinh thường đàm”  là: “Chuyện tầm phào của người già”. Và rồi ông lấy một ví dụ sử dụng câu thành ngữ này cũng rất mâu thuẫn, khó hiểu: “Phải hết sức lắng nghe các cụ vì lão sinh thường đàm”. Như thế, ta cần phải hết sức lắng nghe những “câu chuyện tầm phào”của các cụ hay sao? Theo “Từ điển thành ngữ, điển cố Trung Quốc” thì “Tam quốc chí: Nguỵ thư: Quản Lộ truyện viết: “Thử lão sinh chi thường đàm”. Lão sinh là chỉ thư sinh già. Đời sau dùng “lão sinh thường đàm” biểu thị những lời bình thường cứ nhai đi nhai lại mãi, không có ý gì mới”(3)
-Câu “Khu ngư vi uyên khu tước vi tùng”. Ông Bảo không sai khi dịch: “Đuổi cá xuống vực, xua chim về rừng”. Nhưng, câu này nói về một việc làm phản tác dụng, bởi vì nước sâu và cây rừng đều là môi trường sống lý tưởng của cá và chim. Khi xua đuổi chúng về chốn này khác nào làm cho kẻ bị mình đánh đuổi trở nên mạnh thêm (giống như câu “Thả hổ về rừng”). Lạ thay, NVB lại giải thích câu thành ngữ này là “Không biết tập hợp lực lượng quần chúng, thậm chí lại làm cho tan rã ra”(!)
-Câu “Tích cốc, phòng cơ” (Có nghĩa là để dành thóc lúa phòng khi đói) ông N.V.B lại dịch: “Ăn khi no, lo khi đói”. Tại sao lại đem chuyện “ăn khi no” ví với câu “Tích cốc” ? Thật tối nghĩa ! Thậm chí vô nghĩa !
-Câu “Nhân bất thông cổ kim ngưu mã nhi khâm cư”. Thành ngữ này không có phần nguyên văn chữ Hán như những câu khác. Do đó, rất khó kiểm chứng khi ông Bảo dịch chữ “khâm” là “vải bọc thây”, chữ “cư” là “vạt của áo”; sau đó ông giải thích: “Người không thông hiểu việc xưa nay thì cũng như trâu ngựa được mặc áo quần”. Chẳng biết có phải do kiến văn hẹp hòi, nông cạn hay không, nhưng tôi chưa bao giờ nghe câu thành ngữ được xếp vào loại “thường gặp” này. Liệu ở trên thế gian, những kẻ thông hiểu việc xưa nay được mấy người? Và không thông hiểu việc “cổ kim” phải đâu là tội lỗi hoặc điều xấu xa, sao lại xem những người đó giống như “trâu ngựa được mặc áo quần”? Nếu ông Phạm Văn Bảo cho rằng, câu này thuộc loại "thường dùng", có thể tập hợp để các em học sinh tham khảo thì phải giải thích rõ ràng, ở điển tích nào. Bởi với tục ngữ, nhiều câu, nếu không tìm đến ngọn nguồn xuất xứ của nó sẽ trở nên rất vô lý.
4. Biên soạn thiếu thống nhất, khoa học:
Cuốn sách tập hợp 725 câu thành ngữ cách ngôn “thường gặp”, lại được dùng trong nhà trường, nhưng nhiều câu rất “mù mờ”, không hiểu nguồn gốc ở đâu, “thường gặp” trong văn cảnh nào, cách dùng ra sao, tác giả, sách nào đã từng dùng ? Phần lớn những ví dụ, dẫn chứng về cách sử dụng các thành ngữ, cách ngôn đều do ông N.V.B tự đặt ra một cách chung chung, vô căn cứ và rất khó hiểu. Sách nói “được giải nghĩa và phiên âm tiếng Trung văn, chú thích chữ Hán” để “qua phần phiên âm và chú giải Hán tự, bạn đọc sẽ tiện lợi hơn trong việc tra cứu, tham khảo và sử dụng” nhưng soạn giả rất tuỳ tiện. Nhiều câu không có phần nguyên văn chữ Hán. Ví dụ các câu: “Bỉ sắc tư phong, Khuyển mã chí tình, Khu ngư vi uyên khu tước vi tùng, Khởi (cải) tử hồi (hoàn) sinh, Nhân bất thông cổ kim ngưu mã nhi khâm cư”,v.v...khiến cho người cần tìm hiểu nguyên văn chữ Hán để đối chiếu không biết đâu mà lần !
Như vậy, chỉ mới dừng ở mức “Cưỡi ngựa xem hoa” thôi nhưng có thể thấy, những sai sót trong cuốn “Thành ngữ cách ngôn gốc Hán” của Nguyễn Văn Bảo là khá nghiêm trọng. Điều đáng nói, đây là “sách dùng trong nhà trường”,nhằm “giới thiệu rộng rãi với bạn đọc, với thầy cô giáo và nhất là với các em học sinh” một cuốn “Sổ tay sử dụng những từ gốc Hán” (như lời soạn giả). Sách đã tái bản lần thứ hai, đủ thời gian, cơ hội để chỉnh lý, bổ sung, hiệu đính, nhưng soạn giả vẫn để nguyên tình trạng “dĩ hư truyền hư”.  Sách lại được PTS Đỗ Thị Hảo-Viện nghiên cứu Hán Nôm-Uỷ viên ban chấp hành hội văn nghệ Dân gian Việt Nam” giới thiệu(4). Và theo “lời tác giả”, sách cũng được bà Đỗ Thị Hảo, phó tiến sĩ Hán Nôm, ông Đinh Văn Minh, Chuyên viên Hán Nôm, đặc biệt là nhà Hán học Lê Bầu “hiệu đính toàn bộ nội dung và phần chú giải chữ Hán”. Bản thân tác giả (phần tự giới thiệu “cùng tác giả”) cho biết từng biên soạn những cuốn như “Từ và ngữ Hán Việt trong sách văn phổ thông” (NXB Văn học-1992) “Mở rộng vốn từ Hán Việt” (Đồng tác giả NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-1997). Cuối cùng, sách ra đời từ một địa chỉ có uy tín: Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội. Lẽ nào ngần ấy những tên tuổi, học vị, thương hiệu, vẫn không đủ để đảm bảo cuốn sách tránh được những sai sót đáng tiếc nói trên?  Liệu đã có bao nhiêu thầy giáo, học sinh dạy nhầm, học nhầm, hậu quả là tiền mất, tật mang ?
 Năm 2008, tôi đã có bài viết góp ý những sai sót của cuốn “Thành ngữ cách ngôn gốc Hán” trên tạp chí Nguồn Sáng (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam”. Tuy nhiên năm 2010, trong chuyên mục “Gõ cửa ngày mới” của Đài TH Việt Nam, lại thấy ông NVB xuất hiện với tư cách Nhà giáo khách mời và tiếp tục “quảng cáo” cho cuốn “Thành ngữ cách ngôn  gốc Hán”, coi đây là đóng góp quan trọng trong cuộc đời soạn giả !


                                                                                      H.T.C
Chú thích:
(1)-Con dê là một trong “lục súc” (6 loài vật nuôi trong nhà ) và là con vật quý dùng để tế thần của người Trung Quốc.
 (2)-Chữ “lao” nghĩa gốc là chuồng nuôi súc vật, chuồng nhốt con vật trước khi đem giết để tế thần (gồm bộ miên là nhà, dưới là bộ ngưu). Người Việt Nam đã mượn chữ “lao” này để chỉ con bò. Tôi còn giữ được một văn tự bán bò niên hiệu Bảo Đại năm thứ 3, chủ bò là Lê Văn Vi-người thôn Văn Đoài, tổng Văn Trinh, huyện Quảng Xương – Thanh Hoá, trong đó có câu: “gia hữu tẫn hoàng lao nhất đầu niên phương nhị tuế” ( nghĩa là: nhà có một con bò cái lông vàng tròn hai năm tuổi). Núi Đồng Cổ thờ thần Đồng Cổ (thuộc huyện Yên Định-Thanh Hoá) vốn tên là núi Khả Lao. Chữ “lao” là con bò. Dân gian trước kia cũng gọi là núi Con Bò.
(3)- “Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc”-Nhà xuất bản Khoa học xã hội-2001
(4)-Uỷ viên ban chấp hành Hội văn nghệ dân gian Việt Nam không phải là chức vụ khoa học.