Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

BIẾN ĐIỆN KÍNH THIÊN

THÀNH NƠI NGỦ NGHỈ VÀ THỜ CÚNG
XIN ĐỪNG LÀM THẾ !

Hội thảo thành Hội nghị, Hội nghị lại thành Tọa đàm
Ảnh: Báo VHĐS Thanh Hóa
TCTP:Những ai quan tâm Khu di tích lịch sử Lam kinh gắn với Khởi nghĩa Lam Sơn và anh hùng dân tộc Lê Lợi đều biết “Chính điện Lam kinh” là di tích lịch sử chính yếu hết sức trọng đại, đã được được Bộ văn hóa và tỉnh Thanh Hóa đầu tư xây dựng từ 1994 với nhiều trăm tỉ đồng. Dù nêu tiêu đề “phục dựng” rồi biện minh là “phỏng dựng” cũng phải căn cứ hoặc dựa vào di tích gốc, kết hợp tài liệu sử sách (quy định của luật di sản). Không được tùy tiện sáng tạo theo chủ quan người vẽ thiết kế rồi tìm cách che mắt người phê duyệt.

Chúng tôi đã xem 2 bản “Dự án nội thất chính điện Lam kinh” (Bản I và bản II có sửa chữa-Thuyết minh và hình ảnh kèm dự trù 38 tỉ ĐVN) của nhóm kiến trúc sư Hàn Tất Ngạn (cũng là người đã thiết kế tòa chính điện chữ “công”), sau đó lại được đọc cuốn “Kỷ yếu hội thảo chuyên đề nội thất chính điện di tích lịch sử Lam Kinh” của Ban tổ chức Hội thảo.
Chúng tôi nhận thấy cách làm của Ban tổ chức nhằm “chữa cháy” cho một công trình thiết kế vội vàng. Bởi giấy mời viết Tham luận và tài liệu đều mang tên "Kỷ yếu Hội thảo chuyên đề Nội thất chính điện Di tích Lịch sử Lam Kinh".Nhưng thực tế lại diễn ra theo cách một buổi tọa đàm gọn nhẹ. Vì vội vàng nên sinh ra lúng túng. Càng lúng túng càng vội vàng biến “Hội thảo” thành "Hội nghị" rồi trương biển "Hội nghi" nhưng lại tuyên bố là “Tọa đàm” (xin xem ảnh). Đây là sự đánh tráo khái niệm hay không hiểu từ ngữ ? Như thế là lợi dụng chủ trương phát huy di tích đúng đắn, thành bịa đặt di tích, xuyên tạc lịch sử, bằng cách giương cao ngọn cờ lễ hội và du lịch.
Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ, một trong những người tham gia nhiều cuộc tranh luận về vấn đề Di tích Lam kinh tại các cuộc Hội thảo cũng như trên báo chí từ 1995. Ngày 9 tháng 4 năm 2014, Nhà nghiên cứu cũng được mời tới dự với tư cách tác giả có tham luận tại Hội thảo chuyên đề “Nội thất chính điện di tích lịch sử Lam Kinh”.
Vì sao có cuộc Hội thảo này ? Là vì công trình kiến trúc gỗ chính điện Lam kinh sắp hoàn thành, nhưng người ta chưa biết chính xác nó là cái gì ? Không hiểu nó là cái gì đồng nghĩa không biết đặt trong đó những đồ vật (nội thất) như thế nào. (Mà lẽ ra, việc xác định nó là cái gì, câu trả lời phải có trước khi làm chính điện mới phải). Nhưng muộn còn hơn không. Nội dung các bài tham luận in trong kỷ yếu "Hội thảo hóa Tọa đàm" nổi bật lên 3 quan điểm:
1. Chính điện Lam kinh là miếu thờ vua.
2.Chính điện Lam kinh là hành cung (nơi ngủ nghỉ của vua mỗi khi xa giá).
3.Chính điện Lam kinh không phải miếu thờ, không phải hành cung mà là điện Kính Thiên.
Bằng sự khảo cứu công phu, khoa học, Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ đã loại trừ chức năng 1 và 2 của chính điện. Mặt khác, Nhà nghiên cứu chứng minh rằng chính điện Lam kinh chính là điện Kính Thiên, có kiến trúc tương tự như điện Kính Thiên ở Đông kinh (Hà Nội). Tuy nhiên, tham luận khoa học của Hoàng Tuấn Phổ không được trình bày tại Hội thảo, do Hội thảo đã "hóa Tọa đàm". Tác giả tham luận "Lam kinh là gì ?" chỉ được phát biểu miệng mấy lời do "buổi tọa đàm” ngắn ngủi sắp kết thúc (lúc ấy đã 11giờ 30). Không được đọc tham luận đã đành, quan điểm đúng đắn, khoa học của Hoàng Tuấn Phổ cũng không được Đoàn chủ tọa “Hội thảo hóa tọa đàm” xem xét. Thay vào đó, (thật lạ lùng), Đoàn chủ tọa "Tọa đàm" này đã đi đến một kết luận rất "kỳ dị". Đó là “dung hòa” hai quan điểm 1 và 2: Chính điện Lam kinh vừa là miếu thờ vừa là hành cung. Nghĩa là một công trình "oẳn tà roằn", "đa năng" không giống ai: vừa là nơi ngủ nghỉ vừa là nơi thờ cúng các vị vua Lê (!).
Chúng tôi nghĩ rằng, miếu thờ và hành cung là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, không thể đem “dung hòa” với nhau. Không vua chúa nào dám dùng hành cung để thờ tổ tiên và cũng không được phép ăn ngủ trong miếu thờ.
 Lam kinh vẫn còn đó chiếc cầu bắc qua sông Ngọc Khê vốn kiểu thượng gia hạ kiều duyên dáng, bị biến thành chiếc cống đá bên Tàu; chiếc hồ chức năng như Long Trì ở Đông kinh đã biến thành "giếng cổ"  kè đá của "làng Lam Sơn". Ai đó làm sai tinh thần lịch sử sẽ có tội với lịch sử, với đức Lê Thái tổ Cao hoàng đế, có lỗi với nhân dân tham gia lễ hội và người đến lịch vì đã đánh lừa họ.
Vì không được trình bày và xem xét bản tham luận công phu (vốn được chính Ban tổ chức Hội thảo đặt bài) tại Hội thảo, Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ đã xin Chủ tọa cho phép được gửi bài tham luận của mình ra công luận để rộng đường tham khảo. Theo Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ, Đoàn chủ tọa tọa đàm đã đồng ý.
Vậy xin mời các bạn đọc qua bài tham luận không được trình bày: “Chính điện Lam kinh là gì ?” của Hoàng Tuấn Phổ. Nếu có thể vui lòng cho ý kiến trao đổi để vấn đề được rộng đường dư luận.
Ghi chú: Chủ trì Hội thảo (thực chất Tọa đàm): 
-Ông Vương Văn Việt-Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa.
-PGS.TS. Đặng Văn Bài -Phó Chủ tịch Hội di sản văn hóa Việt Nam, Đại diện Việt Nam trong Ủy ban Di sản thế giới.
-Giám đốc Sở VHTTDL: ThS. Nguyễn Văn Tuấn.
                                                                      

                                                                                                   Tuấn Công Thư Phòng



CHÍNH ĐIỆN LAM KINH LÀ GÌ ?

                                                                   Hoàng Tuấn Phổ
Chính điện Lam kinh có phải đích thực là tòa cung điện hình chữ “công” ? Đặt câu hỏi này thật vô lý, vì thực tế nền móng hình chữ “công” còn sờ sờ ra đó, và sách “Dư địa chí của Phan Huy Chú", bản dịch Viện sử học Việt Nam cũng chép rõ: “Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ “công” mẫu mực theo giống như kiểu các miếu ở kinh sư” (Xuất bản 1960). Góp ý kiến cho “Dự án nội thất chính điện Lam kinh” GS Trần Lâm Biền viết: “Với nên chữ “công”, hệ kiến trúc chữ “tam” là dạng “trùng thiềm điệp ốc” sớm nhất nước ta”. Ông nói thế là không hiểu gì về kiến trúc cổ truyền Việt Nam. Vì kiểu chữ “tam” là kiểu chữ “tam”, kiểu chữ “công” là kiểu chữ “công”.Dù thuộc hệ kiến trúc nào, chữ “công”hay chữ “tam” cũng đều không phải là dạng “trùng thiềm điệp ốc”. Vì “trùng thiềm điệp ốc” là kiều nhà “kép”, hai mái giáp nhau, giữa hai tòa nhà kết nối với nhau bằng một bộ phận phụ nhỏ gọi là “thừa lưu”, hay “mái vỏ cua”theo lối nói nôm na của giới thợ thuyền. Đây là kiểu kiến trúc chính điện Thái Hòa-Huế của nhà Nguyễn.
Trở lại với bản dịch “Lịch triều hiến chương loại chí” phần Dư địa chí của tổ biên dịch Viện sử học. Theo lời giới thiệu của tổ biên dịch, không tìm thấy nguyên bản chính mà chỉ dựa vào một bản chép tay, mà bản chép tay, tổ biên dịch thừa nhận khó tránh khỏi nạn “tam sao thất bản”. Như vậy, nói riêng phần Dư địa chí-Viện sử học, chúng ta thường dùng làm cứ liệu nghiên cứu, với câu văn dịch “Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ “công” mẫu mực như kiểu các miếu ở kinh sư”, liệu có chính xác ?
Theo nhà thư tịch học Trần Văn Giáp, dưới triều Nguyễn quyển "Hoàng Việt dư địa chí" của Phan Huy Chú vốn là Dư địa chí trong "Lịch triều hiến chương loại chí" được khắc in 4 lần: 1833, 1897, 1907 và một lần do nhà in Duy Minh Thị không đề năm. Bản khắc in lần đầu, lúc Phan Huy Chú đang minh mẫn, khỏe mạnh, 7 năm sau 1840 ông mới mất. Như vậy chắc chắn bản in này khó có thể bị sai sót.
Năm 1997 Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành quyển "Hoàng Việt dư địa chí" ấy của Phan Huy Chú kèm theo nguyên bản in chữ Hán. Bản dịch do Phan Đăng thực hiện, nhìn chung chưa thật hoàn hảo so với nguyên tác. Ở đây chi xin trích một câu hết sức quan trọng. Nguyên văn chữ Hán theo bản in kèm: “Điện chi cực cao, lưỡng dịch khai hoằng đình. Hạ thiếp thủy tượng thị triều tiền điện. Hậu môn ngoại, nhị thạch ngao cực linh. Điệp tam liên vi vương tự, mỗi dạng tượng kinh sư miếu chế”.
Phan Đăng dịch: “Nền của điện rất cao, hai bên chái mở ra hai sân rất rộng, trước có đường xuống sông. Phía sau và phía trước điện đều có tượng đứng chầu, ngoài cửa có tác hai con chó đá  dáng rất linh hoạt. Điện này có ba toàn liền nhau hình chữ “vương”, mỗi tòa đều giống các miếu vũ ở kinh sư”.
Đúng ra, phải dịch: “Nền điện rất cao, hai bênh nách mở ra sân rộng. Phía trước có là làn nước giống như phía trước điện thị triều. Ngoài cửa phía sau có hai có hai con chó ngao bằng đá rất thiêng. Điện có 3 tòa liền nhau hình chữ “vương” mỗi tòa đều theo phép tắc của các miếu ở kinh sư”.
Bản dịch của Phan Đăng có mấy chỗ sai quan trọng:
-Câu “Hạ thiếp thủy tượng thị triều tiền điện”mà dịch là “trước có đường xuống sông”thì sai bét ! Tham khảo bản dịch Viện sử học, chúng ta thấy đúng hơn: “Nền điện rất cao, hai bênh cạnh mở rộng, dưới sân điện có làn nước phẳng giống như sân trước chỗ nhà vua coi chầu”.
-Câu “Hậu môn ngoại, nhị thạch  ngao cực linh” cụm từ “nhị thạch ngao cực linh”, Phan Đăng dịch: “Hai con chó đá hình dáng rất linh hoạt” là vô tình xuyên tạc nguyên tác. Người dịch bỏ mất chữ “ngao” là chó ngao, chữ “cực linh” là rất thiêng, lại dịch là hình dáng rất "linh hoạt" cũng là cách dịch ẩu, đoán bừa cho xong !
Công bằng mà nói, tổ biên dịch Viện sử học dịch giỏi hơn Phan Đăng nhiều, nhưng vì các cụ không có văn bản chính xác nên khó tránh khỏi sự lầm lẫn. Riêng cụm từ “mỗi tượng kinh sư miếu chế”, Phan Đăng dịch: “Mỗi tòa đều giống miếu vũ ở kinh sư”, bản dịch Viện sử học: “Mẫu mực giống như các miếu ở kinh sư”, đều chưa lột tả được ý nghĩa chính xác của từ “chế” trong “miếu chế”. Chữ “chế” ở đây không phải là làm, chế tác ra (động từ) mà có nghĩa là định chế, phép tắc, quy cách đã định ra từ xưa (danh từ). Chữ “chế” này nhấn mạnh sự giống nhau về kiến trúc của các điện miếu ở Đông kinh và Tây kinh mang tính định chế, phép tắc không thể tùy tiện làm khác đi được. Vấn đề kiến trúc này rất quan trọng, chúng ta phải tìm hiểu chủ trương nhà Lê, chủ ý Lê Thái tổ đã định đô Đông kinh, còn xây dựng Lam kinh tức Tây kinh, một kinh đô khác ở Lam Sơn để làm gì ?
Cũng mục nói về Lam kinh, Phan Huy Chú viết: “Cập trưởng kết nạp hào kiệt khởi nghĩa Lam Sơn, bất thập niên nhi thiên hạ đại định, kiến lập Tây kinh toại vi thiên hạ căn bản”. Nghĩa là: “Đến khi lớn lên, vua kết nạp hào kiệt, khởi nghĩa Lam Sơn, chưa đầy mười năm, thiên hạ đại định.Vua cho xây dựng Tây kinh để làm gốc cho đất nước”. Như vậy, Lam kinh hay Tây kinh là kinh đô gốc của đất nước, cho nên còn gọi là “Nguyên kinh”, nhà Thái miếu ở đây cũng được gọi là “Nguyên miếu” để phân biệt với nhà Thái miếu ở Đông kinh, chỉ là phiên bản của Tây kinh. Cho nên chính điện Đông kinh thế nào, chính điện Lam kinh cũng như thế ấy. Nhưng rất tiếc, tài liệu địa chí về Đông kinh rất nghèo nàn. Địa chí của Phan Huy Chú và Quốc sử quán triều Nguyễn có nhắc đến cũng chỉ mấy dòng sơ sài. Đọc đoạn viết về Lam kinh của Phan Huy Chú chúng ta thấy dường như có gì vướng mắc, lời văn ngập ngừng úp mở. Nói về Tây Hồ thì “giống như Hồ Kim Ngưu” không có địa chỉ cụ thể. Nói về cầu thì “giống như Bạch Kiều ở Giảng Đình điện Vạn Thọ”. Nói về điện thì không dám nói rõ tên điện, cũng không dám nói thẳng “làn nước giống như phía trước điện thị triều” đó chính là hồ Long Trì trước điện Kính Thiên. Tuy nhiên, những chữ “tượng” (giống như): Tượng Kim Ngưu, Tượng Vạn Thọ Giảng Đình Bạch Kiều, Tượng thị triều tiền điện, Tượng kinh sư miếu chế (Bốn chữ Tượng) cho chúng ta thấy Lam kinh đúng là kinh đô gốc, là Nguyên kinh, là căn bản của đất nước. Đặc biệt, cụm từ “Tượng thị triều tiền điện”, phải chăng tác giả có ý nói đây chính là điện Kính Thiên như Đông kinh ? Đúng thế !
Vậy chính điện Kính Thiên ở Đông kinh Thăng Long như thế nào ?
Chắc quý vị cũng biết rằng tại sao tôi không đi thẳng vào vấn đề “Nội thất chính điện” ? Vì không biết chính điện Lam kinh là gì, tất không hiểu chức năng của nó, và do đó không thể rõ trong chính điện cần phải bày đặt những gì ? Bàn thờ ? Long sàng ? Hay ngai vàng ? Cho nên, người nói miếu thờ, người bảo hành cung, cuộc tranh luận sẽ không có hồi kết.
Tuy nhiên chúng ta lại phải dùng từ “rất tiếc” ! Tác giả địa chí Phan Huy Chú nói rằng “Mỗi tòa đều theo phép tắc của ác miếu ở Kinh sư”, nhưng trong Địa dư chí của nhà sử học lại không có dòng nào chi chép về Kinh sư, miêu tả miếu điện Đông kinh như đã viết về Lam kinh ! Chúng ta đành phải lần tìm một số điều ghi chép trong quốc sử.
Năm 1780, Đông kinh thuộc quyền nhà Tây Sơn, bị sửa lại làm trấn Bắc thành. Năm 1802, trấn Bắc thành lại bị nhà Nguyễn sửa chữa lần nữa. Nhiều cung điện đổ nát, hoang phế. Đặc biệt, chính điện Kính thiên, Gia Long sai sửa lại làm hành cung, từ 9 gian xuống 5 gian, hai chái. Cuối cùng, năm 1896, quân Pháp san bằng tất cả để xây dựng thành phố Hà Nội !
Trước khi hành cung Bắc thành, tiền thân là chính điện Kính Thiên, bị Pháp triệt hạ một thời gian, năm 1876 Pétrus Trương Vĩnh Ký từ Sài Gòn ra Hà Nội, viết thiên ký sự: Chuyến đi Bắc kỳ, trong đó mô tả điện Kính Thiên, những gì ông còn thấy sau tang thương biến đổi:
“Qua cầu Ngũ môn đến Kính Thiên, đền ấy nền cao lắm, có 9 bậc xây đá xanh, hai bên có hai con rồng, cột đều tròn, lớn trót ôm, tinh là gỗ lim cả. Ngó ra đàng sau, còn thấy một hai cung điện cũ, chỗ vua Lê thủa xưa, bây giờ hư tệ, còn tích lại đó mà thôi...”
Sau Pétrus Ký, một sĩ quan Pháp là Prédéric Garcin cũng tả “chùa Nhà vua”:
“Chúng tôi đến ngôi chùa tinh thần của vua. Đó là một kiệt tác của nền kiến trúc An Nam. Trên nóc có những con rắn bằng đá trải dài về bốn góc, mà cái nền thì rất cổ kính...Ba dãy thềm cùng một hướng và chung quanh được bao bọc bằng những con rồng bằng đá. Hai chân trước có vuốt to. Từ trên những cái đầu khổng lồ, mồm há rộng và hai mắt mở to. Hình như chúng đang rình mồi và đang sẵn sàng chồm tới. Những cái vây trên lưng rồng được làm bệ tỳ của các bậc thang và đuôi cong lên đến mặt thềm của ngôi chùa...”

Thềm rồng điện Kính Thiên (Hà Nôi)

Thềm rồng chính điện Lam Kinh (Thanh Hóa)
Một ký giả khác, André Masson cho biết thêm:
“Chùa nhà Vua được dựng lên ở chỗ lâu đài của triều đại nhà Lý… ở một nơi được lựa chọn với lý do có nhiều điều kiện kỳ diệu nhất về địa lý và có những bảo vệ mầu nhiệm che chở chống lại những ảnh hưởng xấu…” v.v…
Những ký giả Pháp viết về điện Kính Thiên, nghĩa là kính trời, họ đều dùng từ Pagode Royale, vì họ không có từ tương đương để dịch, nhưng lại không muốn ghi nguyên âm Kính Thiên. Những bài viết của họ còn miêu tả rất kỹ hoa văn trên hai tảng đá tạc vân hóa long mà họ gọi là hai bức vân mây,v.v...
Hồ sơ “cải tạo Hà Nội” của người Pháp trước khi phá thành Thăng Long-Hà Nội, lưu trữ ở Trường Viễn Đông bác cổ, họ đo đạc rất kỹ nền điện Kính Thiên Hà Nội, so sánh với chính điện Lam kinh, chúng ta thấy tỉ lệ dài, rộng chênh lệch nhau khoảng trên dưới 10m (Số liệu đo đạc khảo cổ Lam kinh thời điểm 1980, tức gần 100 năm sau) Đối chiếu bức ảnh chụp điện Kính Thiên Hà Nội năm 1892 của Sách Une Campague du Tonkin của Hocquard với bức ảnh của Luis Bezarcier, Ủy viên Trường Bác cổ chụp năm 1942, phần nền móng của chính điện Kính Thiên Hà Nội và chính điện Lam Kinh giống như một. Khi người Pháp “cải tạo Hà Nội”, thực tế khu chính điện Đông kinh cũng đã bị “cải tạo” hai lần vào đầu triều Tây Sơn và đầu triều Nguyễn đã làm mất đi kiến trúc kiểu chữ “vương”, 3 tòa “tam liên vi vương tự” thành "nhị liên vi công tự” như chính điện Lam Kinh. Lý do đơn giản, nhà Lê đã mất, chính điện chữ “vương” sao có thể tồn tại ? Đến nhà Thái miếu Đông kinh cũng phải dỡ về Lam kinh , chưa kịp dựng đã có lệnh Gia Long dời về Bố Vệ, xây dựng lại nhỏ hẹp trên cơ sở điện Hoằng Đức vốn thờ Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh. Tại sao nhà Nguyễn vội vàng thế ? Ấy vì con cháu nhà Lê không thần phục tân triều và nhân dân Bắc hà vẫn một lòng luyến nhớ triều Lê, khắp nơi rục rịch nổi dậy...
Vua Lê dù ngự ở chính điện Đông kinh hay chính điện Lam kinh, tại sao nhất thiết phải trên điện chữ “vương” ? Nguồn gốc ý nghĩa chữ “vương” là gì ?
Theo giáp cốt văn cùng kim văn và sách Tìm về cội nguồn chữ Hán (Lý Lạc Nghị-Jim Waters-NXB Thế giới) chữ “vương” hình thành trên cơ sở chữ tượng hình, ban đầu là hình vẽ một cái rìu lớn, lưỡi rìu to rộng kiểu tối cổ, có cán dài, đầu cán lồi ra hơi tòe, đôi cán cũng nở phình để cầm được chắc tay. Hình rìu này là sức mạnh và quyền uy. Từ hình tượng ban đầu đó, phát triển dần lên, ngày càng hoàn chỉnh thêm thành chữ “vương” có 3 nét ngang to đậm, một nét nhỏ nối giữa tức là “tam liên” tượng trưng cho vương quyền của nhà vua. Theo giải thích của nhiều tài liệu, 3 nét ngang là tam tài: thiên, địa, nhân, nét giữa là sự liên kết giữa “tam tài” ý chỉ sự thống trị được thiên hạ, nếu không, thiên, địa, nhân vẫn chỉ là chữ “tam”, con số “nhị dương” bình thường. Thế mới gọi là “tam liên vi vương tự”, Phan Huy Chú không chỉ mô tả dáng kiểu đặc biệt của kiến trúc mà còn nhấn mạnh ý nghĩa đặc sắc của kiến trúc. (Chú ý: nét nối không gọi là ngôi,tòa).
Còn chữ “công” thì sao ? Chính điện nếu kiến trúc chữ “công” không thể là điện thị triều nơi vua ngự trị “trị quốc an dân” với cương vị một hoàng đế, một thiên tử vâng mệnh trời “thuận thiên hành hóa”. Vì chữ “công” là công cụ, là người giúp việc. Tự dạng chữ “công” này cũng có nghĩa khéo léo, chặt chẽ...Tượng hình ban đầu của chữ “công” là con dao thời thượng cổ theo hình vẽ trên giáp cốt văn và kim văn. Lưỡi dao này phải to phình ở giữa để chặt, chém, cắt cứa đều có tác dụng tốt. Phần chuôi dao cũng phải tòe ra để cầm nắm được vững chắc. Nó tượng trưng cho vai trò đắc lực của kẻ làm công cụ phục vụ, giúp việc bề trên đầy sức mạnh và quyền uy là vua.
Nhưng tại sao, thực tế nền móng chính điện Lam kinh chỉ thấy chữ “công” ?
Nhà Lê mất vào tay Tây Sơn, tiếp nhà Nguyễn, kinh đô trước sau đều chuyển đặt ở Phú Xuân. Di tích quan trọng bậc nhất tiêu biểu cho vương quyền nhà Lê là chính điện Kính Thiên, ở Đông kinh đã bị sửa chữ “vương” làm chữ “công”, chính mắt Trương Vĩnh Ký quan sát thấy chỉ có “2 tòa” (Nhà nối không thể gọi là tòa) và Prédéric Garcin chỉ thấy 3 dãy thềm. Ở Đông kinh (Hà Nội) đã như vậy, lẽ nào điện  Kính Thiên ở Lam kinh (Lam Sơn-Thanh Hóa) vẫn tồn tại “3 tòa” để làm “tam liên vi vương tự” ? (nét nối ở giữa là nhà liên thông, liên kết, không gọi là tòa).
Với các công trình kiến trúc chính yếu của đế vương thời xưa, điều kiện địa lý-phong thủy vô cùng quan trọng.
Xét về quy chế xây dựng và địa lý phong thủy đúng như lời Phan Huy Chú, chính điện Đông kinh (Hà Nội) với chính điện Lam kinh (Thanh Hóa) hoàn toàn giống nhau. Từ ngoài cổng hoàng thành đi vào, qua sông Ngọc Khê, ở Thăng Long gọi là sông Ngọc Hà, trên sông có Ngọc Kiều, qua Ngọc Kiều đến Ngọ Môn, qua cửa Ngọ Môn đến hồ Long Trì, sân rồng, tiếp đến Đan Trì, thềm rồng 9 bậc, chia ba lối lên, hai rồng đá đầu to, cất cao, hai bức vân hóa long. Phong cách rồng đá và vân hóa ở đây (Lam kinh) so với rồng và vân hóa ở thềm điện Kính Thiên (Hà Nội) hiện còn sót lại đều giống nhau như chung một khuôn mẫu.
Chỉ trước điện Kính Thiên hay trước điện Thị triều theo cách nói của Phan Huy Chú mới có hồ Long Trì hình chữ nhật, người đời quen miệng gọi là hồ “bán nguyệt”. Thực ra “bán nguyệt” là nửa vòng tròn, mặt trăng là tượng “âm”, chỉ ở khu lăng mộ, lăng tẩm đế vương. Hồ Long Trì trước chính điện luôn có nước dẫn thủy long mạch, phong thủy học gọi là “Long thủy đáo đan trì”, một nguyên tắc không thể thiếu hoặc thay đổi trong xây dựng điện Kính Thiên. Tài liệu khảo sát của Louis Bezacier vẽ một cái hình chữ nhật, bốn góc hơi lượn, ở giữa đề chữ “Le lac” tiếng Pháp là cái hồ.
Yếu tố phong thủy thứ hai là sông Ngọc Hà trước điện Kính Thiên Đông kinh (Hà Nội) và sông Ngọc Khê trước chính điện Lam kinh (Thanh Hóa). Sông Ngọc Hà Hà Nội đã thành bình địa, dấu xưa còn để lại là làng Ngọc Hà, theo các nhà Hà Nội học. Sông Ngọc Khê Lam kinh may mắn chưa bị vùi lấp nhưng cũng không còn nguyên vẹn thế tự nhiên của nó. Sông Ngọc Hà cũng như Ngọc Khê là thủy long mạch, giữ vai trò phong thủy hết sức quan trọng là “Tốn thủy nhiễu điện đình”. Dòng sông từ phía tây chảy về nam, qua trước chính điện, ôm vòng lấy chính điện, nước lượn chảy như lưu luyến không muốn dời đi, lại như cánh tay thiên tạo trìu mến, ôm ấp, bảo vệ điện đình, như hình cánh cung thần kỳ đang giương bắn để chống lại mọi kẻ thù vô hình và hữu hình.
Yếu tố phong thủy quan trọng thứ ba: Đông kinh có hồ Kim ngưu, Lam kinh có Tây Hồ. Đó là “não thủy” của Đông kinh và Lam kinh trong đó sừng sững ba tòa chính điện chữ “vương”.
Yếu tố phong thủy quan trọng thứ tư: Chính điện Lam kinh lấy Du sơn là “hậu chẩm”, Mục sơn làm “tiền án” (tiền án Lam Sơn lại là Chủ Sơn) thì chính điện Đông kinh có núi Tam Sơn “hậu chẩm” và dãy Chiêu Sơn “tiền án”.
Tóm lại, đặc điểm kiến trúc, chính điện Lam kinh: Nhà 9 gian, thềm rồng 9 bậc, hai đôi rồng bò từ trên thềm xuống, có sân rồng, có hồ Long Trì, có lầu Ngọ môn, có Tả vu, Hữu vu,.v...Đó chỉ có thể là chính điện Kính Thiên, hay điện Thị triều theo chữ của Phan Huy Chú mà không thể là miếu điện hay hành cung.
Tại sao chính điện Lam kinh không thể là điện Thái miếu hay điện hành tại, hành cung ?
Chính điện Lam kinh không thể là điện miếu, Thái miếu:
Vì theo quy chế kiến trúc cung đình thời Lê, Thái miếu chín tòa theo Lễ kinh, kiểu đồng đường dị thất, không thể có kiểu điện miếu 9 gian. Điện miếu hay Thái miếu chỉ có 5 bậc thềm và một đôi rồng, không thể hơn. Đó là nơi thờ vua đã chết. Tại Lam kinh, Lê Thái tổ không có đền thờ riêng. Ngài cũng được thờ ở miếu chính của Thái miếu. Thánh vị Ngài đặt phía trước, thánh vị cha, ông, cố đặt phía sau, cho nên Phan Huy Chú mới bình là: Con dẫu lớn hơn cha cũng không thể ăn trước cha. Nhưng đó là quy định thời từ đời trước, các đời sau không dám thay đổi.
Hoàn toàn không thể có chuyện thờ Lê Thái tổ trong chính điện (điện Kính Thiên) Lam kinh. Lý do đơn giản đó là qui định của triều Lê chép rõ trong Lễ nghi chí của Phan Huy Chú. GS Trần Lâm Biền khẳng định trong tham luận: “Trước Thái tổ đã có Thái miếu hoặc có đền thờ riêng (có khi cho từng vị cụ thể). Sau Thái tổ đã có Thế miếu. Còn Thái tổ thường có đền thờ riêng, như ở Lam kinh đã có đền riêng...” Không đúng ! GS Biền đã không hiểu đến cả từ Thế miếu là gì nên đã lầm lẫn Lam kinh với kinh đô Huế. Lam kinh tuyệt nhiên không có Thế miếu, chỉ kinh đô Huế, ngoài Thái miếu thờ các đời chúa Nguyễn, còn có Thế miếu thờ các vua Nguyễn. Cũng chỉ ở kinh đô Huế mới có điện Phụng Tiên thờ Thế tổ Cao hoàng đế tức vua Gia Long và Hoàng hậu. Hay GS Biền muốn nói đến ngôi đền thờ Lê Thái tổ của xã Xuân Lam ? Điều này lại càng sai to ! Bởi đền này mới dựng khoảng những năm “30” nằm ở ngoài khu vực Lam kinh.
Chính điện Lam kinh không thể là hành tại, hành cung.
"Đại Việt sử ký toàn thư"chép rõ:
“Ngày Nhâm Ngọ, vua đến Lam kinh, làm lễ yết lăng miếu. Tháng 3 ngày mồng 1 (1448) của ban yến cho các quan ở hành tại bến sông”.
Hành tại ở bến sông là hoàn toàn hợp lý, vì vua Lê từ Đông kinh về Lam kinh phải đi đường thủy, dừng lại bến cuối cùng: bến Mục Sơn, rồi từ đây rẽ vào Tây Hồ, theo sông Ngọc Khê bằng thuyền nhẹ đến bến Tế Độ bên cầu Ngọc Kiều trước cổng Ngọ môn. Từ cổng Ngọ môn chiếu thẳng hướng Nam tới núi Mục Sơn bên núi Mục Sơn, tiền án chính điện Lam kinh.
Bản “Dự án nội thất chính điện Lam kinh” lần thứ 2 bỏ chức năng thờ cúng, cho đây là nơi vua làm việc và nghỉ ngơi cùng hoàng hậu, hoàng phi. Nhưng hãy giở lại "Đại Việt sử ký toàn thư"sẽ thấy Lê Thánh tông đã có lệnh cấm các quan không được lén lút mang theo vợ con làm ô uế nơi tôn nghiêm, lẽ nào nhà vua ngủ nghỉ cùng hoàng hậu, hoàng phi ở ngay chính điện (điện Kính Thiên) thì không “làm ô uế nơi tôn nghiêm” ? Vậy, trước nói là tên miếu điện, nay chuyển sang tên hành cung, có tùy tiện quá chăng ? Riêng danh hiệu Sùng Hiếu đã nói lên nơi thờ cúng tổ tiên rồi, sao lại định đem đặt tên cho "hành cung" ngủ nghỉ của vua ? Mà hành cung đó lại vốn là điện Kính Thiên ? Theo thông lệ, hành cung hay hành tại đều không đặt tôn hiệu, tôn danh riêng, địa điểm ở đâu thì lấy địa danh nơi đó. Ví dụ hành cung Hồng Mai, hành cung Nghệ An, hành cung Thúy Ái,.v.v...Những hành cung này về kiến trúc đều có quy định, thông thường nhà chính 5 gian, nhà bếp 3 gian hoặc 5 gian bậc thềm cao nhất 5 bậc, chung quanh đều có tường rào, các quan và quân lính ở dinh trại vòng ngoài,v.v...
Bởi dự đoán mò chức năng chính điện Lam kinh, nội dung bài trí, trang hoàng bên trong đều lúng túng và sai be bét. Ví dụ: Chiếc trống đồng, “Dự án” cho treo trên xà tiền điện chữ “công”, GS Biền bảo phải đem về hậu điện “đặt ở sát tường” ! Điện vua sao treo trống giống như nhà lý trưởng treo trống làng lên xà nhà ? Đến nghè thờ thần thành hoàng cũng có giá chiêng, giá trống, lẽ nào điện vua tùy tiện thế ? Làm gì có chuyện các quan đứng chầu ở trong điện ? Chính điện Lam kinh không thể bắt chước điện Thái Hóa Huế đương đại, vì họ trưng bày nhằm mục đích phục vụ du lịch. Còn chính điện Lam kinh phải phục hồi di tích lịch sử cho tốt đúng luật di sản, phát huy tác dụng di tích lịch sử để từ đó phục vụ du lịch chắc chắn sẽ tốt hơn.
Biến điện Kính Thiên thành Thái miếu, Điện miếu đã là sai. Nay lại dung hòa, gộp cả chức năng điện miếu thờ và hành cung, hành tại ngủ nghỉ cho điện Kính Thiên (kính trời) lại càng sai to.
Đây là vấn đề khó, cần thận trọng. Không được dùng chức tước khoa học để áp đặt. Thế mới là khoa học, là lịch sử. Nếu không, không phải là “Di tích lịch sử Lam kinh” mà chỉ là xuyên tạc “Di tích Lam kinh” mà thôi.
                                                                                    HTP

Nguồn tài liệu trích dẫn và tham khảo:
-Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục.
-Viện Hán Nôm, Viện
-Sách viết về kinh thành Huế, Thăng Long-Hà Nội.
-Tài liệu nghiên cứu của tác giả.       






Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

ÔNG TRẠNG LỢN ƠI !


                                                                      Hoàng Tuấn Phổ

TCTP: Nhântuancongthuphong đăng bài “Người Thanh Hóa dưới "nửa" con mắt của GS Văn hóa Ngô Đức Thịnh” bạn Trần Đức Anh (Khoa Toán-Đại học sư phạm Hà Nội) ngỏ ý muốn chúng tôi nói rõ hơn về nhân vật Trạng Quỳnh. Đáp lời bạn, hôm trước chúng tôi đã đăng “Trạng Quỳnh, ông là ai?”. Hôm nay, mời Đức Anh cùng bạn đọc tham khảo thêm bài “Ông Trạng Lợn ơi !”. Tuancongthuphong không có ý gì khác.

 Chế độ phong kiến nhà Hậu Lê thời kỳ suy tàn đã xuất hiện một loạt các ông Trạng: Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Trạng Vật, Trạng ăn, Trạng Cờ… Nói chung, đã là Trạng, dù Trạng dở hay Trạng nguyên, Trạng thật hoặc Trạng rởm đều phải ít nhiều có chữ, như Trạng Quỳnh, Trạng Vật, Trạng Ăn, Trạng Cờ… Duy có ông Trạng Lợn, đáng lẽ cái bụng phải to kềnh to càng, sao lại lép kẹp, sờ nắn mãi không thấy chữ nào?

Thì ra chú bé Chung Nhi (quý danh của Trạng Lợn) được cha mẹ cho học rất sớm, ước mong thằng con hiếm lớn lên thi đỗ làm quan, đặng thoát khỏi nghề “Lớn lại” gia truyền. Bản thân Chung Nhi cũng hạ quyết tâm: Không học thì thôi, đã học phải đỗ trạng nguyên mới bõ công đèn sách.  Nhưng thực tế, Chung Nhi nhác học thành thần, tay cầm sách cuộn lại như lưỡi dao bầu, mắt nhìn hòn son Tàu thấy giống miếng tiết lợn, và bên tai lúc nào cũng vẳng tiếng lợn kêu eng éc!... Thành ra, có mỗi một câu trong sách vỡ lòng Tam tự kinh Chung Nhi cứ ra rả như quốc kêu cả ngày cả đêm vẫn không thuộc nổi! Câu  gì vậy? đó là câu “Nhân chi sơ tính bản thiện…” (1) Thầy đồ hỏi: “Nhân chi sơ” là gì? Chung Nhi quên tịt thò lò, thấy âm “sơ” gần âm “sờ” thì trả lời bừa “là sờ vú mẹ”! Thầy đồ bật cười, nghĩ nó dốt đến thế, không thể dạy được, nên cáo từ mà đi. Cha mẹ Chung Nhi lại phải đón mời thầy khác. Ông này bỏ Tam tự kinh dạy sang sách khác. Dạy rằng: “Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng” (2), Chung Nhi cũng không nhớ, cứ đọc ra “Thiên tích thông manh, thánh phù chỏng gọng”! Rồi thầy cũng ôm tráp ra đi. Cứ thế, cha mẹ Chung Nhi mời đến mấy chục thầy đồ, ông nào cũng lắc đầu kêu: “Còn thiếu mổ bụng nó ra như mổ lợn mà nhét chữ vào”!.
Ấy vậy rồi Chung Nhi cũng đỗ, đúng hơn được nhà vua phong học vị trạng nguyên, “nguyên” mà vẫn”dở”, một thứ trạng vừa thật, vừa rởm, dù được bảo hành đến vĩnh viễn! Tuy nhiên, nhân dân lại gọi trạng nguyên Chung Nhi- Dương Chung Nhi là Trạng Lợn, một biệt danh thích hợp và ngắn gọn. Bởi vì…
Chung Nhi đành nối nghiệp tổ tông, cái nghề lái lợn tuy chẳng vẻ vang gì, nhưng mềm môi, mát dạ, ngày nào chẳng chén đẫy tiết canh lòng lợn, khiến nhiều kẻ ước ao. Một hôm anh ta đến nhà ông quan nọ để mua lợn. Cô tiểu thư con quan tên là Phấn đề tên mình thành vế đối lên bức vách ngoài cửa: “Bát đao phân mễ phấn”, thách tất cả văn nhân tài tử trong thiên hạ ai đối được sẽ trọng thưởng. Chung Nhi hỏi dò biết tên cô tiểu thư là Phấn, bèn nhờ anh giúp việc cho quan sẵn giấy mực đề chữ Chung bên cạnh chữ Phấn. Vừa lúc ấy cha con ông quan ở trong ra thấy, liền hỏi: “Đứa nào dám đề một chữ “chung” vào đấy?” Chung Nhi thưa: “Dạ bẩm, con đề ạ, Chunglà tên con ạ!” Ông quan quay lại hỏi con gái: “Con có hiểu thế nào không?” Cô tiểu thư tủm tỉm cười: “Thưa cha, đó là “Thiên lý trọng kim chung”. Viên quan gật gật đầu  nói: “Vế con ra là “Bát đao phân mễ phấn” là bốn chữ “Bát, đao, phân, mễ” (八,刀,分,米,粉) hợp laị thành chữ “Phấn”, vế chàng trai đối lại “Thiên lý trọng kim chung”là bốn chữ “Thiên, lý, trọng, kim” (千,里,重,金,鍾) hợp lại thành chữ “Chung”. Hay! Hay tuyệt! Viên quan và cô tiểu thư cứ tấm tắc khen mãi anh lái lợn hay chữ, thế nào cũng thi đỗ cao làm quan lớn, rồi thưởng cho con lợn trong chuồng mà anh ta đang hỏi mua!
Chung Nhi không ngờ cái tên mình cũng thành câu đối hay, được thưởng những một con lợn kếch xù! Điều quan trọng hơn, anh chàng lái lợn vốn nổi tiếng dốt, bỗng hoá thành hay chữ lừng danh. Người ta thêm mắm muối dấm ớt kể rằng Chung Nhi nổi tiếng thần đồng từ nhỏ. Một  hôm cậu bé con Chung Nhi đang chơi trò quan tân trạng vinh quy về làng, ông khách đến chơi nhà thấy vậy, hỏi đùa: “Trạng dở hay là trạng nguyên?”. Chung Nhi liền đáp lại: “Khách quen hoá khách lạ!”. Không ngờ câu trả lời của Chung Nhi cùng với câu hỏi của mình hợp thành câu đối rất chỉnh, không thể chê được, ông khách chỉ biết trầm trồ khen ngợi… Thế là anh lái lợn một chữ bẻ đôi không có, đã nổi tiếng càng thêm nổi tiếng, lời đồn thổi cứ lan xa,vang xa…
Lần ấy, Chung Nhi cùng người bạn đi mua lợn, đường xa lỡ bước phải tìm nơi trọ lại. Vừa đến cổng làng, thấy một cái bia đá đề hai chữ “hạmã” (下馬)là xuống ngựa, Chung Nhi vốn dốt lại hay nói chữ, đọc ngay là “bất yên” (不 焉) ! (Đối với người không rành chữ Hán, trông chữ hạ hơi giống chữ bất, chữ mã na ná chữ yên). Anh bạn nói: Loại bia này nhiều làng có, tôi thấy người ta bảo là “hạ mã”, sao lại thành chữ “bất yên”? Chung nhi trợn mắt như mắt lợn luộc: “Đã bảo bất yên là bất yên, anh dám cãi cả tôi sao?”. Người bạn cúi đầu, biết là “có lỗi” vì bấy giờ Chung Nhi đã nổi tiếng hay chữ, ứng đối mau lẹ, ai cũng nể trọng. Chung Nhi hạ giọng, ôn tồn giảng giải: “Bất yên là không yên, làng này không trọ được, đành tìm nơi khác vậy!” Hai người đi được một quãng đường, bỗng nghe phía xa xa đàng sau tiếng hô la, kêu khóc ầm ĩ. Anh bạn ngoảng lại thấy lửa khói bốc đầy trời, xuýt xoa khen Chung Nhi: “Ông anh tài thật, biết trước việc xảy ra cứ như là ông thánh!”.
Chung Nhi trở nên nổi tiếng do gặp được may mắn hoặc tình cờ hay hiểu lầm, nhưng bởi cứ được khen mãi, thành ra chính anh chàng lái lợn ấy lắm khi cũng ngỡ mình rất giỏi về câu đối, lại có tài tiên tri như ông thánh!
Rồi tiếng đồn cũng vang đến tận triều đình. Viên quan Thượng thư bị mất trộm con ngựa quí, gọi Chung Nhi đến kinh đô tìm kẻ trộm. Chung Nhi chỉ thạo mỗi khoa chọc tiết lợn, nào biết bói toán là gì, tuân lệnh cũng chết mà không tuân lệnh cũng chết. Bây giờ Chung Nhi mới nhận ra kẻ dốt như mình mà hay nói chữ thì dễ chết lắm!  Anh rất hối hận đã không chịu học hành cho tử tế, đành liều phó mặc số phận cho vận may… Nằm ở nhà khách quan Thượng đệm êm, chăn ấm, Chung Nhi trằn trọc đến quá nửa đêm vẫn không ngủ được. Anh chỉ sợ không tìm ra được kẻ trộm ngựa mình sẽ phải chịu tội thay hắn. Anh nghĩ tới chuyện “hạ mã” đọc lầm thành “bất yên”. À thi ra mã là ngựa, ngựa là mã, và câu Tam tự kinh thầy đồ bắt học thuộc lòng  mà không hiểu nghĩa, bỗng hiện lên trong trí nhớ. Để giải buồn, anh đọc: “Mã ngưu dương, thử lục súc, nhân sở tự” (3). Lúc ấy gã ăn trộm đang nằm rình dưới gầm giường, vì nghe nói có ông thánh tiên tri đến để bói kẻ trộm ngựa. Hắn nghe Chung Nhi nhẩm đọc câu gì đó có chữ “tự” thì giật nẩy mình, bởi “Tự” chính là tên hắn! Hắn nghĩ: Ngài đã biết rồi thì tốt hơn hết là ra thú tội, xin ngài đánh chữ đại xá. Thế là hắn bò ra khỏi giường. Chung Nhi tưởng tên thích khách muốn giết hại người tài, suýt la toáng lên. Khi biết hắn ta là kẻ trộm ngựa, Chung Nhi mừng lắm, hỏi nơi cất giấu ngựa rồi báo cho quan Thượng sai người đến nhận. Còn tên trộm ngựa, Chung Nhi tha bổng.
Từ đó Chung Nhi ở hẳn lại kinh đô. Nhà vua hết bảo anh tiếp sứ lại sai anh đi sứ. Nhờ thần may mắn, chẳng việc gì anh không làm tốt khiến quan chức phong kiến Bắc quốc phải phục sát đất, khen nước Nam lắm anh tài. Còn vua thiên triều cứ muốn giữ lại để phong “chức” trạng nguyên, làm quan nhất phẩm nhưng Chung Nhi nhất quyết từ chối. Sơn hào hải vị gì, anh vẫn không quên được bát tiết canh khéo hãm đông cứng với đĩa lòng lợn sốt còn bốc hơi nóng hổi!
Bấy giờ miền biên giới Thanh Hóa, Nghệ An hay bị giặc cướp phá. Triều đình nhiều lần sai tướng văn, tướng võ đánh dẹp vẫn không yên. Các quan đồng thanh tiến cử Trạng Lợn. Chung Nhi lo sốt vó. Anh ta chỉ quen cầm dao bầu và nói thánh nói tướng, đâu có biết kiếm cung với binh pháp là gì! Chuyến này phải ra trận chắc không lối về ! Vợ Chung Nhi là Phấn Khanh, cô tiểu thư con quan ra vế đối “Bát đao phân mễ phấn”, thấy chồng lo lắng đến bỏ ăn bỏ ngủ, cười nói: “Lũ giặc cũng như đàn ong, cứ giết tướng, giết chúa là quân không cần đánh cũng tan”. Chung Nhi than: “Nghe nói thằng tướng giặc này tính hình hung dữ, võ nghệ cao cường có phải là con lợn đâu!” Phấn Khanh hỏi: “Thế cái thòng lọng với con dao bầu của chàng để làm gì?” Chung Nhi tối dạ nhưng sáng ý, chợt nghĩ ra, reo “à” lên một tiếng. Ra trận, Chung Nhi nấp trong bụi rậm, thó sẵn cây thòng lọng đặt giữa đường. Chờ tên tướng giặc đi qua, chàng tròng vào chân ngựa như khi bắt lợn, giật mạnh một cái. Con ngựa bị ngã quay lơ, hất tên tướng xuống đất. Hắn chưa kịp đứng dậy đã bị Chung Nhi nhảy tới rút dao bầu đâm một nhát vào cổ như chọt tiết lợn!
Nhà vua mừng lắm, ban ngay cho Trạng cái biển đề bốn chữ “Văn võ toàn tài”! Đây là lần đầu tiên và duy nhất Trạng Lợn không nhờ vào may mắn hay tình cờ hoặc chính bởi cái dốt nát của anh ta để thành công. Trạng Lợn đã dùng sở trường lái lợn của mình để lập nên công trạng lớn. Đành rằng còn phải tính đến công tham mưu hiến kế của Phấn Khanh. Nhưng đó cũng là vận may cho anh ta đã có người vợ biết yêu nghề lái lợn của chồng.
Cùng là con đẻ bất đắc dĩ của chế độ phòng kiến, nhưng Trạng Quỳnh suốt đời đả kích chế độ phong kiến, còn Trạng Lợn lại suốt đời phục vụ chế độ phong kiến. Trạng Quỳnh đại diện cho tầng lớp nho sĩ bình dân bất mãn với chế độ phong kiến, nhìn vào đâu cũng thấy đối tượng đả kích. Nội dung phản phong của truyện Trạng Quỳnh do đó rát phong phú. Trạng Lợn lại thuộc tầng lớp lao động nông thôn, về cơ bản anh ta không có mâu thuẫn gì đáng kể đối với quan lại, vua chúa phong kiến. Nhưng Trạng Lợn là một tính cách hai mặt. Nghệ thuật xây dựng truyện của dân gian thật tài tình. Một nhân vật vừa dốt, vừa giỏi, giỏi mà vẫn dốt, dốt mà lại giỏi. Chữ “hạ mã” đọc là “bất yên” là nhờ dốt mà thành nhà tiên tri, biết trước điều sắp xảy ra. Chuyện bói tìm kẻ trộm ngựa cho quan Thượng thư cũng vậy, nếu không dốt thì anh ta ngâm thơ đọc phú, đâu có ê a lại mấy câu sách học vỡ lòng! Rồi những chuyện tiếp sứ, đi sứ vẫn là nhờ dốt mà anh ta thành công! Cho đến tài nghệ đánh thắng giặc, cũng chỉ là tài nghệ của anh lái lợn văn dốt cũ dát, chỉ biết bắt trói lợn và chọc tiết lợn! Tưởng chỉ có văn, anh ta cứ nói phứa nhờ vận may mà trúng quả, nào ngờ đến cả võ, anh ta cứ đánh bừa, cũng do thần may mắn phù họ mà nên công! Chẳng cần học, không phải thi, đường công danh của chàng lái lợn Chung Nhi trải rộng lên tận đỉnh vinh quang: “Văn võ toàn tài”!
Phải công nhận Chung Nhi dốt nhưng thật thà. Anh không phải loại dốt chữ mà thạo trò bịp bợm, không hề khoe khoang mình giỏi câu đối, mình tài tiên tri. Nhưng tại sao từ quan đến vua, cả thiên triều, thiên tử, không ai nhận ra con người vốn có của chàng lái lợn? Ấy là vì chính bản thân họ cũng ngu dốt, rất dốt! Khoản này họ không thua kém Chung Nhi, còn hơn cả Chung Nhi. Cho nên Chung Nhi mới được phong trạng nguyên, mới được ban “Văn võ toàn tài”. Như thế, để cấu tạo thành danh nhân Trạng Lợn, sự phù hộ của thần May Mắn chưa đủ, phải có vai trò quyết định của Thánh Dốt!
Sự tích Trạng Lợn cho biết cha trạng là Dương Đình Lương, mẹ trạng là Trần Thị Thảo, quê quán làng Mạn Phủ, tục gọi làng Giữa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Những tính danh, địa danh này thật hay giả, đều không ảnh hưởng gì tới giá trị nghệ thuật của sáng tác dân gian. Dân gian ca ngợi Chung Nhi, đề cao Trạng Lợn để đả kích chế độ phong kiến thời kỳ suy tàn, mọi thứ giáo dục, thi cử, tuyển dụng nhân tài,… cũng như vai trò của vua quan thống trị đều trở nên hài hước.
Trạng Lợn và Trạng Quỳnh, hai chiến sĩ chống vua quan phong kiến thời kỳ chế độ suy tàn. Trạng Quỳnh đem cái giỏi để chống cái dốt, bị vua quan thù ghét, cuối cùng “Trạng chết chúa cũng thăng hà”. Trạng lợi lại “dĩ độc trị độc” dùng cái dốt để trị cái dốt, nên đã chiến thắng. Tuy nhiên, ngày nay, nếu có người còn nhận là hậu duệ của Trạng Quỳnh thì chẳng một ai dám tự xưng là dòng dõi Trạng Lợn (?) Nhưng thôi ông Trạng Lợi ơi! Ông đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, cần gì phải có kẻ thừa kế cái gia tài dốt? Xin Người hãy an giấc ngàn thu, chuyện dương gian khỏi bận… đã có những ông trạng khác học vị cao, học hàm lớn chức tước to kế tục sự nghiệp ông xứng  đáng…!

                           (Bài đã đăng Tạp chí Xứ Thanh năm Con Lợn 2007)

(1)  Người ta sinh ra tính vốn lương thiện
(2)  Thông minh do tính trời, được dùng vào việc có ích nhờ thánh sư phù hộ
(3)  Ngựa, trâu, dê, thuộc 6 con vật nuôi của người.





                                                                                                             













Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

LĨNH NAM CÔNG NGUYỄN QUỲNH

Ông nội thi hào Nguyễn Du
                         Hoàng Tuấn Phổ
Dòng họ Nguyễn Tiên Điền của thi hào Nguyễn Du, khởi tổ là Nam Dương Hầu Nguyễn Nhiệm, dòng dõi trạng nguyên Nguyễn Thiến (1495- 1557), nguyên quán làng Canh thuộc thành phố Hà Nội. Đọc thi hào Nguyễn Du, chúng ta thường chỉ biết ông là con trai Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, em quận công Nguyễn Khản, ít ai chú ý đến người ông nội của Tố Như cũng là một nhân vật cự phách: Lĩnh Namcông Nguyễn Quỳnh.
Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) và sách Nghi Xuân huyện thông chí: Nguyễn Quỳnh tự Phụ - Dực; hiệu Lĩnh Nam tiên sinh, sinh năm Ất Mão (1675) đời vua Lê Hy Tông, là con trai Phù quận công Nguyễn Thể, thân phụ Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, ông nội Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Du… 

Nguyễn Quỳnh có sáu con trai: con trai cả Nguyễn Huệ đỗ tiến sĩ, thứ hai Nguyễn Nghiễm đỗ hoàng giáp (lúc nhỏ nổi tiếng thần đồng), Nguyễn Trọng thứ ba đỗ hương tiến (tước Lan Khê hầu), Nguyễn Tín thứ tư mất sớm, Nguyễn Sĩ đỗ sinh đồ, con thứ năm (tước Đông Lĩnh hầu) và con rốt Nguyễn Huyền (không thấy ghi học vị, quan tước) (*).
Nguyễn Quỳnh học rộng tài cao, nhưng đi thi chỉ đỗ hương tiến tam trường khoa Quý Dậu (1693). Năm ấy, Nguyễn Quỳnh 18 tuổi. Cha mất, Nguyễn Quỳnh ở nhà cư tang, và sau đó từ giã con đường khoa cử. Năm 1705, Trung quận công Lê Thời Liêu (người Thanh Hóa) làm trấn thủ Nghệ An, nghe tiếng Nguyễn Quỳnh, rất quý tài mến đức, mời ông làm mặc khách nơi dinh trấn Kỳ hoa, tham mưu việc quân cơ và ngoại giao để đối phó với chúa Nguyễn Nam Hà. Trong thời gian làm việc mặc khách, Nguyễn Quỳnh thích đi chơi sông núi, nghiên cứu địa thuật. Tính ông vui vẻ, ưa chuyện khôi hài, đến đâu cũng được người địa phương có cảm tình. Năm 1723, Trung quận công mất, Tạo quận công thay trấn thủ Nghệ An, muốn đem Nguyễn Quỳnh tiến lên chúa Trịnh; nhưng năm đó, thân mẫu mất, Nguyễn Quỳnh rời dinh trấn về quê cư tang. Rồi ông ở hẳn nhà nuôi dạy các con ăn học.
Nổi bật nhất trong số các con của ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), tự Hy Tự, hiệu Nghị Hiên, biệt hiệu Hồng Ngự cư sĩ, đỗ hoàng giáp khoa Tân Hợi (1731), tài kiêm văn võ, làm quan tến Thái tử thái bảo, tước Xuân quận công, gia Đại tư không… Đánh giá nhân vật lịch sử Nguyễn Nghiễm, Phan Huy Chú viết: “Ông có tài lược văn võ, lúc nhỏ học giỏi thi đỗ, trải thờ 3 triều…, vào làm tướng văn, ra làm tướng võ, ở ngôi tể tướng 15 năm. Ông xếp đặt gọn mọi việc bề bộn, đối xử ứng tiếp lúc nào cũng như lúc nào. Ân vương thường khen là người có đức vọng, tài trí. Ông là bậc nguyên lão trong nước, làm cột đá cho triều đình, công lao và danh vọng long trọng, đời bấy giờ ai cũng khen ngợi…” (1). Nhà sử học kiêm thư tịch học Trần Văn Giáp viết về tác gia Nguyễn Nghiễm: “Ông có sáng kiến tổ chức hệ thống dịch trạm từ Kinh Bắc đến Nghệ An và Lạng Sơn. Ông không những giỏi về chính trị, văn thơ nổi tiếng mà còn là một sử gia đứng đắn. Sách sử của ông nay mới chỉ biết nhiều đoạn trích dẫn trong bản “Đại Việt sử ký tục biên” của Ngô Thời Nhậm. Ông cũng từng giữ chức tổng tài Quốc sử quán…” (2). Ngoài ra, Nguyễn Nghiễm còn có các tác phẩm:  Quan trung liệu vịnh, Việt sử bị lãm, Lạng Sơn đoàn thành đồ chí, Xuân đình tạp vịnh, Cổ lễ nhạc chương thi văn tạp.
Con trưởng Nguyễn Nghiễm là Nguyễn Khản đỗ tiến sĩ năm 1760, làm thượng thư bộ Lại, tước quận công, và cũng ở ngôi thủ tướng. Thi hào Nguyễn Du là con trai thứ bảy của Nguyễn Nghiễm…
Sinh thời Nguyễn Quỳnh ham nghiên cứu và trước tác. Ông tinh thông các khoa địa thuật, bốc toán, thiên văn… những khoa mà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vì nó mà lừng danh thiên hạ. Lĩnh Namcông Nguyễn Quỳnh là tác giả hai bộ sách:Đại hiếu chânKinh, Từ ấu chân kinh quyết nghị tập, và nhiều thơ phú (3).
Thời gian làm mặc khách dinh trấn Nghệ An, Nguyễn Quỳnh bày đặt nhiều mưu kế hay giúp trấn thủ quận công Lê Thời Liêu trên cả hai mặt quân sự, ngoại giao, giữ yên miền biên cảnh từ châu Bắc Bố Chính trở ra Nghệ An, khiến dân chúng được an cư lạc nghiệp. Đồng thời Nguyễn Quỳnh nêu tấm gương hiếu kính cha mẹ, nuôi dạy con cháu ăn học thành tài, cống hiến lớn cho đất nước. Vì thế, Lĩnh Nam Nguyễn Quỳnh được triều đình Lê- Trịnh đặc cách phong Lễ bộ thượng thư, Thái bảo Nhuận quận công, khi mất, truy tặng tước Đại vương (4). Bấy giờ thiên hạ truyền nhau câu nói: “Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghiễm thiên hạ vô tam” là ca ngợi hai cho con ông, không ai vinh hiển bằng. Lại có câu: “Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham thiên hạ vô tam”, cũng là nói về hai nhân vật cùng họ Nguyễn; Nguyễn Quỳnh xứ Nghệ, Nguyễn Nham xứ Đoài (Thạch Thất, Sơn Tây), sống đồng thời và tài học khó có người thứ ba sánh kịp. Thực ra, những câu ngôn truyền như vậy, thường chỉ có ý nghĩa về mặt nào đó, hoàn toàn không thể xem như là chuẩn mực, bình xét khái quát toàn bộ con người và sự nghiệp của nhân vật lịch sử. Không ít nhân vật thiên tài, kiệt xuất, những tên tuổi chói ngời, những danh vọng lừng lẫy, nhưng ta chẳng thấy truyền lại câu nói nào có tính cửa miệng về họ(5).
Tuy nhiên, sự trùng họ, trùng tên của những nhân vật cùng thời, lắm khi cũng gây nên sự hiểu lầm đáng tiếc! Đến như soạn giả Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) cũng nhầm lẫn lung tung cả. Mục Nhân vật (tỉnh Thanh Hóa), Đại Nam nhất thống chí viết:
“Nguyễn Quỳnh người xã Hoằng Nghĩa huyện Hoằng Hóa, đầu đời Cảnh Hưng đỗ hương tiến, văn học uẩn súc, nhưng phóng túng tự do, càng thích hài hước. Thấy họ Trịnh bức hiếp vua Lê, nên không thích ra làm quan, giễu cợt khinh đời, người ta cho là cuồng sĩ" (6)
Đối chiếu với tài liệu gia phả dòng họ Nguyễn Quỳnh (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) do giáo sư Hà Văn Tấn khảo sát khá kỹ in trong sách Trạng Quỳnh của NXB Văn học và NXB Thanh Hóa 1987, và tài liệu lịch sử Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, chúng ta nhận thấy:
- Đại Namnhất thống chí nói Nguyễn Quỳnh đỗ hương tiến vào đầu đời Cảnh Hưng, tức là khoảng từ 1740 đến 1750. Theo gia phả Nguyễn Quỳnh mất năm 1748, như thế nghĩa là sáu, bảy chục tuổi, ông còn lụ khụ chống gậy đi thi, hoặc sau khi qua đời, ông mới đỗ hương tiến cũng nên! Sự thực, Nguyễn Quỳnh quê Hoằng Nghĩa này đỗ đầu kỳ thi hương 1696, năm ông 20 tuổi. Đáng lẽ phải gọi ông là giải nguyên Quỳnh, hoặc giải Quỳnh, các tài liệu nói Nguyễn Quỳnh đỗ hương tiến hay gọi ông là cống Quỳnh đều khá tuỳ tiện, thiếu sự chính xác về học vị.
- Đại Nam nhất thống chí cho biết Nguyễn Quỳnh Hoằng Hóa: “Văn học uẩn súc, nhưng phóng túng tự do, càng thích hài hước”, nhưng xem thơ văn  ông chép trong gia phả, chúng ta chắng thấy “uẩn súc”chỗ nào, cũng không hề được biết ông “phóng túng tự do”, “thích hài hước” mà hoàn toàn ngược lại. Ông là người sống nghiêm túc, tận tụy với việc quan, long đong lận đận, hết làm giáo thụ lại làm huấn đạo, năm 41 tuổi còn đi thi khoa sĩ vọng để cầu được lên chức !
- Đại Namnhất thống chí nói Nguyễn Quỳnh ghét họ Trịnh bức hiếp vua Lê nên “không ra làm quan, giễu cợt khinh đời, người ta cho là cuồng sĩ”, hoàn toàn sai. Năm 1718, Nguyễn Quỳnh dự kỳ thi sĩ vọng tại sân phủ chúa và chính chúa Trịnh Cương ra đầu đề, ông đã khôn khéo ca công tụng đức họ Trịnh như thế nào, mới được đỗ hạng hai, đứng sau tri huyện Trương Nguyễn Điều. Chức quan cuối cùng của Nguyễn Quỳnh trong cuộc đời quyết chí làm quan là tu soạn, hàm chánh bát phẩm, dưới hàm tri huyện một bậc.
Bởi sự nhầm lẫn “râu ông nọ hàm bà kia”, người ta mới lầm tưởng đến nỗi đem cả hai bài phú (Kim bạch tài vật phú, Tần cung phụ nữ) vốn của Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh (Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) gán ghép cho một tác giả không hề có tên tuổi như tu soạn Nguyễn Quỳnh!
Chúng ta được biết Nguyễn Du sinh 1766, sáu năm sau ông nội Nguyễn Quỳnh mất. Nhưng chẳng phải vì thế, thi hào Tố Như không ít nhiều chịu ảnh hưởng gián tiếp của ông nội qua các bận cha, anh mình. Cho nên, không phải là tình cờ hay vô cớ, trong khu vườn lưu niệm thi hào Nguyễn Du ở làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) có “Đàn tế Lĩnh Nam công”, di tích từ thời Nguyễn Nghiễm, do chính Xuân quận công xây dựng năm Nhâm Ngọ, đời Cảnh Hưng (1762) để thờ thân phụ Nguyễn Quỳnh. Trên đàn, dựng tấm bia đá, chính tay Nguyễn Nghiễm kính đề vị hiệu nghiêm đường và bốn chữ Hồng nguyên tuấn lưu (nguồn lớn, dòng mạnh). Hai bên còn có đôi câu đối:
Cảm thời truy nhật nguyệt
Truyền ngữ dữ giang san
Dịch:
Nỗi nhớ dõi theo vừng nhật nguyệt
Lời truyền giữ mãi với non sông
(Thái Kim Đỉnh dịch)
Xem “Đàn tế Lĩnh Namcông” đơn sơ mà giàu ý nghĩa, chúng ta càng khôn xiết cảm động và vô cùng cảm phục tiền nhân.
Viết đến đây, tôi bỗng nhớ câu nói người xưa: “Từ miếu xứng kỳ công, y phục xứng kỳ đức”. Không nên vì sẵn tiền hay muốn khoe mẽ mà mồ mả nào cũng đắp rồng vẽ phượng! Cổ nhân còn dạy: “Tri túc bất nhục”. Phải biết thế nào là đủ. Đủ rồi thì nên dừng lại! Có lẽ Nguyễn Nghiễm và cả Nguyễn Du hiểu hơn ai hết những danh ngôn ấy.
                                                                                              HTP
                                                                Bài đã đăng Tạp chí Xưa Nay-sô 143-2003

* Tài liệu do nhà nghiên cứu văn hoá Nghị Tĩnh Thái Kim Đỉnh cung cấp
1. Lịch triều hiến chương loại chí- Nhân vật chí , tập I, tr.242, NXB Sử học- 1960
2. Lược truyện các tác gia Việt Nam, tr.295, tập I, NXB Khoa học xã hội- 1971.
3. Thơ phú của ông tản mát, thất lạc nhiều nơi, hiện chưa thu thập được hết.
4. Những chức, hàm này đều mang tính danh dự (Vinh phong)
5. Có người cho câu nói: “Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham thiên hạ vô tam” là nói về Nguyễn Quỳnh Hoằng Hoá. Không đúng. Vì Nguyễn Nham đỗ tiến sĩ 1715 đến 1718 làm giám khảo khoa Sĩ vọng (xét tài đức nho sĩ để thăng quan nên không có học hàm) chấm bài thi của Nguyễn Quỳnh. Không ai đem tài học bậc thầy so với sức học hạng học trò.
6. Đại Nam nhất thống chí, tập II, tr.279, NXB Khoa học xã hội, 1970.






Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

NGUỒN GỐC GIA MIÊU NGOẠI TRANG

VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC 

                   HOÀNG TUẤN PHỔ

Khu Lăng miếu Triệu Tường (Ảnh tư liệu trước 1945)

Huyện Tống Sơn xưa chỉ là một dải đất nhỏ hẹp, càng thêm chật hẹp bởi núi liên chi, đồi bát úp. Đây là hình ảnh đặc trưng nhất của Thanh Hoá, cả ba miền rừng núi, trung du, và đồng chiêm trũng cùng hoà hợp trên một vùng đất cổ. Có lẽ họ Lê (tổ tiên của tuyên uý Lê Huấn) đến trước chọn nơi cát địa nhất, lập lên trang Bái Nãi rồi hương Đại Lại, lưng tựa vào dãy núi Ông Lâu hình long ngai, hướng nhìn ra sông Lèn vòng tay ôm phía trước. 

Năm 1336, Lê Quý Ly sinh ở mảnh đất “phát vương” này để thành Hồ Quý Ly, ông vua nhiều danh tiếng cũng lắm tai tiếng. Họ Nguyễn (tiên tổ của Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn) hẳn là đến sau, không ngại rừng thiêng nước độc, lập trại ấp Bái Nại, phát triển thành Bái Trang, sau là Gia Miêu Ngoại Trang ở một góc khuất hoang vắng, nơi núi Bái Sơn dáng rồng nằm gặp dãy Tam Điệp như đàn hổ dữ đuổi theo hai con trâu chạy ra tận sát mép biển Đông(1). Họ Nguyễn đến đây từ bao giờ ? Họ bí mật chui qua lỗ đơm đó của ông Khổng Lồ trên đèo Ba Dọi hiểm trở hay đàng hoàng vượt biển Thần Phù sóng gió rồi ngược dòng Tống Giang lên Bái Sơn?
Vua Gia Long nói : “Tổ tiên ta công đức chứa chồng, có hơn ngàn năm, nhưng thế đại xa cách, sự tích thiếu sót.(2) Và họ Nguyễn cũng chỉ truy tầm để truy phong đến đời ông nội Nguyễn Hoàng là Nguyễn Hoằng Dụ, thân phụ Nguyễn Kim. Địa danh Gia Miêu đã thấy nói đến ở đời Lê Thái tổ, với ba “trang” Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Nội, Gia Miêu Thượng, trong đó, Gia Miêu Ngoại là “anh cả”. Chữ “Gia Miêu” (Hán tự) là lúa tốt. Tổ tiên Nguyễn Công Duẩn đã sớm biến cả một vùng sơn lam chướng khí, nước độc hoá nước lành, đất chua thành đất ngọt để xây nên những đồng lúa tốt. Chắc chắn lương thực gia đình họ Nguyễn phải tích luỹ qua nhiều đời, giàu hơn cả Lê Lương giáp Bối Lý thời Đinh Lê, mới đủ cung cấp nghĩa quân Lam Sơn nhiều vạn thạch lương trong suốt 10 năm kháng chiến.
Câu chuyện “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” giống như một giai thoại vui vui. Nguyễn Hoàng vào Hoành Sơn đâu phải để dung thânmà để lập thân. Đặt chân lên đất Hoành Sơn, Nguyễn Hoàng cùng Nguyễn Ư Dĩ (người cậu ruột nuôi cháu từ lúc mới 2 tuổi) bàn tính kế lâu dài “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng” lại thường xưng là chúa Tiên”, tỏ rõ khát vọng lớn, lập giang sơn riêng. Đến phút cuối đời, Nguyễn Hoàng vẫn chỉ một niềm mong muốn “dựng nên nghiệp lớn”. “Nghiệp lớn” của Nguyễn Hoàng cũng như các đời chúa kế tiếp đều mang danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”. Thế là anh em thành cừu thù, đất nước xảy ra chiến tranh. Tất nhiên nếu không có chiến tranh, lịch sử sẽ mười phần hoàn hảo. Tuy nhiên, chiến tranh đã dạy cho cả hai bên những bài học đắt giá. Từ sau thất bại ở Nghệ An (1655-1660), chúa Nguyễn Phúc Tần nhận ra phía bắc không phải là con đường mở nước. Và những lần tiến đánh Nam Hà tiếp đó của các chúa Trịnh như càng thúc giục thêm các chúa Nguyễn sải dài hơn bước chân mở đất về phương Nam.
 Chính sách di dân khẩn hoang là quốc sách lớn của chúa Nguyễn. Nòng cốt của đội quân khẩn hoang vô cùng đông đảo ấy không phải là dân nghèo phiêu dạt. Trước hết, họ là những nhà giàu có, những nông dân biết làm ăn, những quan lại am hiểu nghề ruộng mang theo những thành phần bất hảo: lưu dân, tù binh, hàng binh, tội  đồ, nô lệ,... người người, lớp lớp tiến về miền đất mới. Tổ tiên chúa Nguyễn xuất thân là dân khai hoang lập ấp, từ hoang rậm mà có trăm kho nghìn lẫm, từ dân lân, dân ấp mà thành trụ cột quốc gia. Những anh hùng ấy khi gấp khúc lươn, họ lại trần lưng tay cày tay cuốc cùng gia nhân, tướng sĩ tự mưu sinh, tích luỹ lương thực chờ thời cơ mới, tiêu biểu: Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim,...Các chúa Nguyễn không chỉ có truyền thống mà còn biết phát huy truyền thống bằng kinh nghiệm thực tế và tư duy sáng tạo của mình để tổ chức sản xuất, quản lý lao động, khắc phục thuỷ thổ, đấu tranh chống thiên nhiên, xây dựng trại ấp,...giúp dân an cư lạc nghiệp trên quê mới.
Quốc sách di dân khẩn hoang lập làng của các chúa Nguyễn giải quyết có hiệu quả vấn đề nông dân trong lịch sử, hạn chế tới mức thấp nhất căn bệnh nan y của xã hội phong kiến, có lúc, có nơi xảy ra khá trầm trọng là phiêu tán, tệ nạn, trộm cướp...dẫn đến bạo động, loạn lạc,...ảnh hưởng an ninh quốc gia. Các chúa Nguyễn, ngoài trách nhiệm dựng nước và giữ nước còn tự giao phó cho mình nhiệm vụ mở nước. Trong tình hình bấy giờ, mở nước cũng chính là dựng nước và giữ nước. Họ mở nước đến đâu, di dân khẩn hoang, lập làng đến đó, và ngược lại, di dân khẩn hoang, lập làng đến đâu, mở nước tới đó. Nghĩa là dân ở đâu, cõi bờ ở đó. Nếu giặc xâm phạm cõi bờ, chính người dân ở đó cầm vũ khí, tự bảo vệ làng quê mình. Trong khoảng 200 năm, các chúa Nguyễn mở mang được gần nửa nước, từ Phú Yên, Khánh Hoà đến An Giang, Hà Tiên, công nghiệp sánh với mấy nghìn năm lịch sử.
 Tuy nhiên, lịch sử đất nước cũng như mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ, có thịnh suy, tồn vong. Nhà Đinh trung hưng thất bại. Nhà Lý bị diệt là mất luôn. Nhà Trần trung hưng đến hai lần đều không thành. Hai nhà: Hậu Lê và Nguyễn đều sáng chói sự nghiệp Trung hưng. Tuy vậy, các vua Lê Trung hưng đều là cái bóng mờ trên ngai vàng đã nhạt màu son. Riêng nhà Nguyễn làm chủ cả một vùng giang sơn rộng lớn nghìn xưa chưa từng thấy. Nhưng đó là do thực lực nhà Nguyễn hay bởi bàn tay can thiệp giúp đỡ của nước ngoài?
            Thực tâm, Nguyễn Ánh trên bước đường cùng, chưa dám quyết định cầu viện vua Xiêm vì chưa tin lắm ông bạn láng giềng nhiều tham vọng. Nhưng tướng Châu Văn Tiếp lại thua trận Cá Trê, đánh liều chạy sang Vọng Các kêu cứu. Vua Xiêm sai hai người cháu Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem hai vạn quân giúp Gia Định trả thù Tây Sơn vốn đã gây cho Xiêm mối bất bình từ trước. Nguyễn Ánh không thể không chấp nhận vì lúc ấy ông chẳng còn tí quyền hành nào ở Gia Định. Việc bất ngờ xảy ra đến cả vua Xiêm cũng không thể ngờ là Chiêu Tăng, Chiêu Sương thả cho quân sĩ cướp bóc, hãm hiếp, tàn hại dân lành, tranh nhau cả tiền bạc Tây Sơn ném ra làm mồi nhử, khiến Nguyễn Ánh thất vọng tin chắc sẽ thất bại, đành tập hợp bề tôi của mình cấp tốc rút về đảo Thổ Chu. Tại đây, theo lời Bá-Đa-Lộc, Nguyễn Ánh phải than rằng người Xiêm lừa gạt ông, mượn cớ lập lại quyền bính cho ông để dùng danh vị ông mà cướp bóc dân chúng và bắt sống ông thôi.(3)
            Dù sao, sai lầm của Châu Văn Tiếp dẫn đến hậu quả nhân dân Gia Định bị tàn hại, Nguyễn Ánh là chủ soái vẫn phải chịu trách nhiệm.
            Mạc thị gia phả, tập sử liệu của người đương thời sống trong cuộc chép rất rõ: “Chiêu Tăng và Chiêu Sương vẫn thả quân cướp bóc tàn hại dân chúng...Vua (tức Nguyễn Ánh) ngăn cản không được, nhỏ nước mắt than : “Việc phục quốc cốt là lo cho nước cho dân, thế mà nay để cho bọn ấy thả sức làm điều bạo ngược, làm quốc chủ như ta làm gì, kẻo rồi giặc nguỵ (tức Tây Sơn) lại vin vào cớ đó vu cho ta rước giặc về tàn hại nhân dân. Ta không nỡ nhìn thấy cảnh đó”. Chư tướng xin từ nay không để mặc cho bọn chúng hoành hoành tàn bạo nữa” (4). Sau đó, nhiều lần vua Xiêm muốn gửi quân sang giúp, Nguyễn Ánh đều không nhận. Ví dụ: tháng 9 năm Quý Sửu (1793) vua Xiêm sai đại tướng Chất Trì đóng quân 5 vạn ở Nam Vang, gửi 500 chiến thuyền đậu ở Hà Tiên, đưa thư hẹn giúp Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, nhưng ông từ chối khéo. Nguyễn Ánh không dễ quên bài học hơn 10 năm trước. Ông nói với tướng sĩ: “Mượn người ngoài giúp, đưa họ vào trong nước mình, sợ di mối hại về sau” (5).
            Nhưng phải chăng, “miệng đọc ca, tay gẩy đàn lỗi”, Nguyễn Ánh vẫn cầu viện phương Tây! Tại sao?
 Bá đa-lộc đem hoàng tử Cảnh đi cầu viện từ cuối năm 1784, đầu năm 1787 mới đến nước Pháp. Rồi 10 tháng sau, ngày 28-11-1787, hiệp ước mới được ký kết, một bên là đại diện vua Louis XVI, một bên Bá-đa-lộc được Nguyễn vương uỷ nhiệm với tờ giấy viết từ năm, sáu năm trước ! Không có quốc thư, chỉ có một tín vật làm tin, đó là chú bé mang tên hoàng tử Cảnh, lúc ra đi tuổi lên 3, bây giờ lên 7 ! Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh  4 chiếc tàu, 1.200 bộ binh, 200 pháo binh, 250 lính Phi, để đổi lấy cửa biển Hội An, sau thêm hòn Côn Lôn. Pháp được toàn quyền và độc quyền thương mại ở Nam Hà(8). Nhưng hiệp ước không thành! Nhiều năm sau, một số người Pháp còn tắc lưỡi tiếc của vì đã bỏ mất món hàng béo bở. Họ không biết chính bởi món hàng hiệp ước Versailles quá hời tới mức không ngờ, toàn quyền De Conway, người được giao trách nhiệm thi hành  hiệp ước, vốn tính đa nghi càng thêm hồ nghi. Ông đã phái nhiều tàu đến Nam hà thám thính, tìm hiểu các cửa biển, các đảo lớn  nhỏ và thực lực Nguyễn Ánh...Hẳn là tên cáo già này đã đánh hơi thấy nhượng địa quan trọng : cửa bể Hội An thuộc quyền quản lý của Tây Sơn hùng mạnh, còn Côn Lôn chỉ là hoang đảo giữa trùng khơi mịt mù sóng gió!
            Tờ báo Gazette nationale ngày 14-6-1789 xuất bản tại Pondichéry viết: “Không bao giờ tình hình dễ dàng cho việc lập lại quyền bính cho ông vua mất ngôi đã trở về chiếm 5 tỉnh phía nam như bây giờ”(9). Đó là một nhận xét đầy mỉa mai: một ông vua mất ngôi,  mới trở về tạm thời chiếm được Gia Định như Nguyễn Ánh mà dám đòi nhường đất đai đã thuộc về một ông vua hùng mạnh của Tây Sơn !
             Trước tình hình ấy, Nguyễn Ánh phản ứng như thế nào? Ông rất mừng khi hoàng tử Cảnh đã được Bá-đa-lộc bảo vệ yên lành, tổ chức đón rước linh đình tại Vũng Tàu. Còn hiệp ước Versailles, De Conway coi là “một trò đùa”, Nguyễn Ánh cũng xem như tờ giấy lộn! Nó có vẻ giống chuyện chú Cuội bán đàn vịt trời trong truyện cười dân gian Việt Nam, một thứ mẹo vặt rất An Nam ! Nhưng hiệp ước Versailles sẽ dẫn tới chiến tranh Pháp với Tây Sơn nếu Pháp muốn có được cửa bể Hội An, và như “Chiến quốc sách” “Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”. Có lẽ đó mới là thâm ý của “ngư ông” Nguyễn Ánh. Sự thật, lúc bấy giờ, con voi Louis XVI đã già, quá già, lại đang sa lầy ở chính nước Pháp và chưa biết đến bao giờ mới thoát ra được.
            Cần nói thêm, hiệp ước Versailles thất bại, Bá-đa-lộc không thể đi không lại về không. Con đường truyền giáo của đức cha có thể chấm hết nếu ông bị mất lòng tin đối với Nguyễn Ánh. Ông vất vả chạy ngược, chạy xuôi mới quyên nổi tiền mua 1.000 khẩu súng trường và mộ được 19 người, gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng giống nhau ở điểm hám lợi, ham danh ! Họ đến Gia Định tháng 7 năm 1789, thường ngày lo đánh chén hơn đánh giặc và rốt cuộc đánh bài chuồn sau mấy năm “làm ăn” không phát tài ! Theo số  liệu của các giáo sĩ: trong quân đội của Nguyễn Ánh đến năm 1800, số người Tây cũng chỉ có khoảng hơn 40 người !
Cái người xưa gọi là “khí số” chính là vai trò lịch sử.  Khi nhà Tây Sơn hết vai trò lịch sử, lịch sử tất phải chọn ai đó, không người này thì người khác, đứng ra dọn dẹp đống đổ nát để xây dựng trên nền tảng quốc gia ngôi nhà mới. Và lịch sử đã chọn Nguyễn Ánh. Lịch sử có thể chọn nhầm ai đó, nhưng với Nguyễn Ánh, là nhân vật xứng đáng nhất vì ông đã thành công nhất. Nếu không chọn Nguyễn Ánh, lịch sử chọn ai bấy giờ? Điểm mặt các anh hùng, hào kiệt nổi lên buổi ấy, không còn ai hơn Nguyễn Ánh hay bằng Nguyễn Ánh. Thiết tưởng hậu thế không nên quá khó tính đòi hỏi những gì lịch sử không thể có được, những gì Nguyễn Ánh không thể làm được. Hạn chế lịch sử từ Quang Trung đến Gia Long là không thể cởi bỏ sớm chiếc long bào ố vàng cũ kỹ để thay bằng bộ complet tân thời mới toanh của văn minh tư sản. Vậy, ở trong cái lồng phong kiến đã trở nên chật hẹp ấy, triều Nguyễn của Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị phải khắc phục như thế nào để ổn định đất nước, bảo vệ nền độc lập, điều hoà mâu thuẫn giai cấp, củng cố vương quyền, phát triển xã hội toàn diện? Trước hết là:
Vấn đề ruộng đất:
            Sau gần nửa thế kỷ loạn lạc, chiến tranh, triều Nguyễn phải gánh chịu hậu quả nặng nề về tình hình ruộng đất rắc rối, phức tạp, đòi hỏi nhà nước phải có chủ trương đúng đắn kèm theo biện pháp hữu hiệu. Năm 1803, Gia Long chỉ dụ cấm bán công điền, tiếp theo, năm 1804, chỉ dụ chia công điền. Gia Long không thể và cũng chưa dám làm gì khác vì đất nước chưa thật  sự ổn định. Một số triều thần xin vua thi hành phép “phân điền chế sản”. Nhưng triều Hồ “hạn điền” hoàn toàn thất bại, triều Tây Sơn lấy ruộng nhà giàu chia cho nhà nghèo cũng chỉ có tác dụng nhất thời. Điền chủ giàu lên, ngày càng giàu thêm nhờ nhiều nguồn đất đai, không phải hoàn toàn bởi thủ đoạn chiếm đoạt của nông dân. Gia Long rất có cơ sở khi ông nói:  “Bọn nghèo không chịu khó nhọc làm ăn, chia cho rồi đem cho kẻ khác, nay muốn ngăn ngừa bọn cường hào kiêm tính bao quát, lấy ruộng chia đều  thì lại thêm phiền nhiễu nhân dân. Trẫm đã nghĩ rồi, không thể làm được”(10) Cho nên Gia Long vẫn phải theo cách cũ của triều Lê, nhưng kèm theo các chính sách tích cực: mở mang đồn điền, đẩy mạnh khai hoang, khuyến khích lao động, dùng pháp luật ràng buộc và xử lý kẻ lười biếng, bọn cường hào, v.v...Đời Minh Mạng, xét thấy tổng số ruộng đất ở Bình Định 76.000 mẫu, ruộng tư chiếm 70.000, còn ruộng công chỉ có 6.000 mẫu, cho lấy một nửa số ruộng tư của mỗi nhà chuyển sang làm ruộng công. Cách làm này tưởng như người ít ruộng chịu thiệt thòi nhất, sự thật ruộng tư của họ ra đi lại trở về dưới cái tên khác: công điền. Còn nhà giàu, càng giàu càng thua thiệt nhiều. (Những nơi công điền nhiều hơn hoặc bằng tư điền không áp dụng lệnh này).
             Những cố gắng của triều Nguyễn các đời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đã đưa nông dân ra khỏi bờ vực thẳm, hạn chế ở mức độ nhất định nạn lưu tán, căn bệnh nan y của thời đại phong kiến nói chung. Đặc biệt, nhà Nguyễn là triều đại phong kiến duy nhất trong lịch sử có thóc gạo dồi dào tới mức xuất khẩu bán cho ngoại quốc.
            Vấn đề thương mại:
            Có phải triều Nguyễn “trọng nông ức thương”? Đúng! Thì triều đại phong kiến nào mà chẳng “nhất bên trọng, nhất bên khinh” ? Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…bấy giờ cũng không khác, không thể khác. Đó là đặc điểm của phong kiến phương Đông chăng? Tuy vậy, hãy xem triều Nguyễn ức thương như thế nào?
            Nhà Nguyễn đặt trạm thu thuế trên ngả ba các con sông huyết mạch. Điều này chứng tỏ nội thương nếu không phát đạt cũng chẳng bị ngăn cấm. Sau một thời gian, Gia Long bỏ bớt trạm thu thuế và giảm mức thuế hoặc không đánh thuế một số mặt hàng để khuyến khích nội thương. Đối với ngoại thương, triều Nguyễn bị xem là “bế quan toả cảng”. Có đúng triều Nguyễn “bế quan toả cảng” hay chỉ giới hạn giao thương, quản lý chặt ngoại thương? Hãy đơn cử một vài ví dụ:
Sau khi Gia Long lên ngôi, người nướcAnh ba lần đến Đà Nẵng xin lập phố buôn bán ở Trà Sơn, nhà vua đều không cho, vì đấy là nơi quan yếu không thể cho người ngoài đến ở. Năm 1832, tổng thống Hoa Kỳ cử đặc phái viên mang quốc thư đến xin thông thương tàu thuyền ở cửa Vụng Lấm, Phú Yên, Minh Mạng sai viết thư phúc đáp, đại ý: Hoa Kỳ muốn xin thông thương, cố nhiên ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay tàu thuyền nếu có đến buôn bán thì cho ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà vượt quá kỷ luật (11).
            Không thể nói nhà Nguyễn, cụ thể Gia Long, Minh Mạng chủ trương “bế quan toả cảng”. Lý do họ quy định cho tàu thuyền ngoại quốc là chính đáng và cách giải quyết như thế là thoả đáng. Các vua Nguyễn cũng hoàn toàn đúng khi triều đình nắm độc quyền ngoại thương để chỉ mua vào những thứ thật cần thiết và bán ra những gì nên bán, có thể bán. Đặc biệt loại hàng chiến lược như thóc gạo, khoáng sản, … quan hệ tới an ninh quốc gia, nhà vua trực tiếp quản lý. Triều đình Nguyễn biết khá rõ trên tàu buôn của nước ngoài có cả những món hàng nguy hiểm chết người: cha cố, gián điệp, thuốc phiện, … không thể để tự do nhập lậu vào Việt Nam.
            Một nhà sử học kịch liệt lên án chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Nguyễn và phê phán thẳng tay tình trạng công thương đình đốn ở triều Nguyễn cũng đã buộc phải viết: “dù sao thời Gia Long đến thời Minh Mạng, nền thương mại trong nước và bên ngoài có phục hồi; thuế thương chính thu được là 3 trên bốn mươi triệu, tức là 1 phần 13 của ngân sách nói chung” (12).
            Vấn đề bang giao:
            Truyền thống Việt – Miên – Lào -  Xiêm là láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau. Gia Long trước khi mất, căn dặn hoàng thái tử (tức Minh Mạng) không được gây hấn ngoài biên (13). Năm 1823, Diến Điện vì mấy lần xâm lược Xiêm, bị quân Nguyễn giúp Xiêm đánh thua nên xin lập đồng minh Việt – Diến chống Xiêm, Minh Mạng từ chối. Nhà vua bảo triều thần: “Không nên bỏ tình hoà hiếu mà tìm sự cừu thù” (14). Nhưng bản tính các vua Xiêm hay cậy mạnh, lại nhiều tham vọng, muốn thôn tính Lục Chân Lạp (Miên) để xâm chiếm luôn vùng đất Gia Định, mưu đô hộ Vạn Tượng (Lào) nhằm uy hiếp cả miền Trung nước Việt. Bởi thế, nhà Nguyễn phải sai tướng đem quân giúp Miên, Lào giữ yên đất nước, vì Việt – Miên – Lào như môi với răng, môi hở răng lạnh. Xiêm nổi giận, hễ có dịp là tấn công Việt để trả thù. Năm 1833, quân Xiêm đánh chiếm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, đánh chiếm cả miền đất phía tây Quảng Trị và xâm phạm biên giới Nghệ An, uy hiếp đến kinh đô Huế, khiến triều đình Nguyễn hết sức lo lắng. Phải mất mấy năm vất vả, quân Nguyễn mới dẹp yên được. Nhưng sau đó, triều đình Nguyễn vẫn sẵn sàng bỏ qua chuyện chiến tranh,  lại quan hệ hữu hảo với Xiêm.
            Không biết có bao nhiêu độc giả đã hiểu lầm bởi một giáo sư nổi tiếng đầu ngành sử học, đã dùng ngòi bút đanh thép kết tội các vua Nguyễn “bành trướng, xâm lược” và “chính sách xâm lược tai hại của triều đình nhà Nguyễn càng làm cho cuộc khủng hoảng trong nước thêm sâu sắc”. Ông tâng bốc Xiêm hết lời và mạt sát Nguyễn cũng cạn lời! (15). Sự thật, từ thời các chúa Nguyễn, hai nước Miên, Lào đã nhờ Nam hà bảo hộ để chống lại sự bành trướng của Xiêm. Và các chúa Nguyễn, tiếp theo là các vua Nguyễn đều hết lòng với Miên, Lào trong việc bảo hộ, vì bảo hộ bạn cũng tức là bảo vệ mình. Bảo hộ là gì? Theo quan niệm các vua chúa nhà Nguyễn, bảo hộ là giúp đỡ, bảo vệ, khác với đô hộ là thống trị, xem nước người ta như thuộc quốc của nước mình. Chính sách bảo hộ của nhà Nguyễn khá minh bạch. Gia Long bảo triều thần: “Bảo hộ là cốt giữ cho nước ấy được còn, chứ không phải để giám sát, cai trị nước ấy. Vậy nên hạ lệnh bọn Thuỵ (viên quan phụ trách bảo hộ Cao Miên) chớ nên can dự vào chính sự nước ấy, để cho phiên vương được tự làm việc thì lòng dân sẽ yên.”(16). Một số triều thần muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Cao Miên để đối phó dứt khoát với Xiêm. Gia Long nói: “được một nước Chân Lạp để sự lo về sau, Trẫm quyết không làm như thế”. Đó là quan điểm đúng đắn mang tầm chính trị sáng suốt, sâu sắc của ông vua giỏi.
            Vấn đề ngoại đạo:
            Nhà truyền giáo nổi tiếng nhất Nam hà bấy giờ là Bá - đa - lộc. Ông này còn mang các tên: Đức cha cả, Giám mục d’Adran, đức ông Pigneau, Pierre- Yoseph – Georges, Pigneau de Béhaine … Với tên Bi - nhu quận công, Bá - đa - lộc như một triều thần Việt Nam thứ hạng cao, chỉ sau quốc công. Ông đang long đong tại Nam Vang, được Mạc Thiên Tứ đưa đến gặp Nguyễn Ánh tại đảo Thổ Chu. Chính ở đây, năm 1784, ông hứa giúp Nguyễn Ánh cầu viện Đại Tây. Mối quan hệ bắt đầu từ đó, đôi bên tưởng chừng gắn bó keo sơn, thực chất là hai thế giới cách biệt không thể dung hoà giữa hai luồng tư tưởng - văn hoá Đông - Tây Việt – Pháp. Bá - đa – lộc âm mưu biến hoàng tử Cảnh thành con chiên ngoan đạo và tương lai sẽ là ông vua sùng tín bậc nhất phương Nam, để dân tộc Việt, tất cả đều chắp tay, cúi đầu trước cây thánh giá. Năm 1789, hoàng tử Cảnh trở về nước sau sáu năm được Bá - đa – lộc kèm cặp. Ngày giỗ gia tiên, cậu bé Cảnh không chịu vái lạy ông bà, Nguyễn Ánh hỏi Đức cha cả tại sao thầy dạy học trò quên ông bà? Bá - đa - lộc trả lời: thờ cúng ông bà, tín ông bà phù hộ con cháu sống lâu, giàu có là mê tín dị đoan. Nguyễn Ánh bảo Bá - đa – lộc: Lễ bái chỉ là để chứng tỏ con cháu nhớ ơn tổ tiên, ông bà, để đền đáp công ơn ấy, tôi nhất quyết phải giữ đạo ông bà vì đó là một trong những giáo dục căn bản của xứ tôi(17). Rồi Nguyễn Ánh đặc cử một số nho thần dạy bảo hoàng tử Cảnh theo lề lối giáo dục truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bấy giờ ở Nam hà, thế lực các giáo sỹ phương Tây rất mạnh nhưng họ đều phải lùi bước trước thái độ cứng rắn của Nguyễn Ánh kiên quyết xây dựng một quốc gia thống nhất về mọi mặt trên cơ sở truyền thống  tư tưởng - văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
            Vương triều Nguyễn thời kỳ đầu trị quốc, các vua Gia Long, Minh Mạng không bảo thủ lạc hậu đến mức phản động như người ta lầm tưởng. Họ ý thức việc cần thiết phải học tập, tiếp thụ khoa học kỹ thuật tiến bộ của văn minh thế giới để áp dụng vào thực tế Việt Nam. Chỉ có khoảng nửa thế kỷ (1802-1858) họ xây dựng vững chắc nền tảng quốc gia thống nhất, để sau đó đế quốc Pháp trong 80 năm đô hộ dù chia cắt đất nước thành ba “kỳ”, với ba chế độ chính trị khác nhau, âm mưu biến Việt Nam thành quận huyện của Đại Pháp thì Việt Nam vẫn là Việt Nam. Và năm 1945, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ kêu gọi một tiếng, cả nước đều nhất tề đứng dậy làm Cách Mạng.
            Dĩ nhiên, bên cạnh vinh quang có cay đắng, họ Nguyễn, từ chúa Nguyễn đến vua Nguyễn đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử những nhiệm vụ lịch sử giao phó mà không hoàn thành, cả những hành vi sai trái, lỗi lầm bất cứ vì nguyên nhân chủ quan hay lí do khách quan.
            Nếu tôi là nhà điêu khắc, tôi sẽ làm một pho tượng đài MẸ ĐẤT MẸ LÚA vĩ đại, dưới chân tượng, hiển nhiên khắc to hai chữ VIỆT NAM, không quên thêm một chữ “NGUYỄN”, dựng tại nơi cát địa nhất của Nam bộ, miền đất được xây đắp bằng trí tuệ,  sức lực và máu xương người Việt Nam suốt năm thế kỷ.

Thanh Hoá, ngày 20 tháng 7 năm 2008
 


 (1)Hiện núi Song Ngưu đã lùi vào đất liền xa bờ biển.
 (2) “Đại Nam thực lục” tập 1 Nhà xuất bản Giáo dục. Trang 883.
 (3) Thư của Pigneau ngày 20 tháng 3 năm 1785. Dẫn theo “Lịch sử nội chiến 1771 - 1802” của Tạ Chí Đại Trường. Nhà xuất bản Công an nhân dân trang 143.
(4) Nhà xuất bản Thế giới. Vũ Thế Dinh căn cứ sổ nhật ký của tham tướng Mạc Tử Sinh và      những điều mắt thấy tai nghe của mình để biên soạn.
 (5) “Đại Nam thực chính biên”.
 (6) Tài liệu đã dẫn.
 (7) Tạ Chí Đại Trường. Tài liệu đã dẫn.
(8) Văn Tân: “Cách mạng Tây Sơn” và nhiều tài liệu khác.
(9) Tạ Chí Đại Trường. Tài liệu đã dẫn.
(10) “Quốc triều chính biên”: dẫn theo “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn”… của Trần Văn Giàu – Nhà xuất bản Văn hoá trang 17.
 (11) “Đại Nam thực lục”, tài liệu đã dẫn trang 412-413.
 (12) Trần Văn Giàu, tài liệu đã dẫn trang 90.
 (13) “Thực lục”, tài liệu đã dẫn.
(14) “Thực Lục”, tài liệu đã dẫn.
(15) Trần Văn Giàu, tài liệu đã dẫn trang 100-119.
(16) “Thực Lục”, trang 883.
(17). Tạ Chí Đại Trường, tài liệu đã dẫn.

Mời tham khảo thêm: 
 

Nới thêm câu phép vua thua lệ làng