Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Chí linh sơn đạo trung kì nhị



Tác giả: Lê Thánh Tông 黎聖宗
至灵山道中其二
参禪人戀心成佛
名利都歸小謁關
路轉林回雲袂冷
舉頭疑入四明山


Tham thiền nhân luyến tâm thành phật 
Danh lợi đô quy tiểu yết quan 
Lộ chuyển lâm hồi vân duệ lãnh 
Cử đầu nghi nhập tứ minh sơn

Dịch nghĩa: 
Trên đường núi Chí Linh (bài 2) 
Người tham thiền muốn biến tâm mình trở thành Phật, 
Danh lợi đều để cả ở chỗ cửa tạm nghỉ;
Đường rừng quanh co, tà áo vương mây lạnh lẽo, 
Ngẩng đầu ngỡ mình leo lên núi Tứ Minh.

Dịch thơ: 

I
Tham thiền người muốn tâm thành Phật, 
Danh lợi không màng để cửa quan; 
Tà áo mây vương, rừng lạnh lẽo,   
Ngẩng đầu ngỡ vượt Tứ Minh sơn. 
                                                     Hải Anh 

II
Muốn tâm thành Phật, tham thiền, 
Lợi danh bỏ hết chỗ miền nghỉ chân; 
Đường rừng áo lạnh, mây vương, 
Ngẩng đầu ngỡ núi Tứ Minh đến rồi. 
                                           Đỗ Quang Liên



Chú thích: 
- Câu này ‎ nói người tham thiền muốn giải thoát thành Phật phải không màng danh lợi, xếp chúng vào một xó, ở nơi cổng ngoài, trước khi vào chùa tu hành. 
- Núi Tứ Minh: Theo truyền thuyết có bốn cửa thông với ánh sáng của Nhật. Nguyệt, Tinh, Thần, nên có tên như vậy. Ở đây chỉ sự giải thoát, cảm thông, hòa hợp với vũ trụ, khi đã có công phu tu hành, không bon chen lợi danh thế tục.



Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

"Uống như hũ chìm" là thế nào ?

  Hoàng Tuấn Công
  
Thư bạn đọc Nguyen Son Phu phu.191973@gmail.com viết: "Tôi mới biết trang “Tuấn Công Thư Phòng” gần đây thôi, khi trang “Quê choa” giới thiệu loạt bài viết của Anh về một số thiếu sót trong một số tác phẩm của Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân. 

Thú thật lúc đầu đọc các bài của Anh thấy thật khó “trôi” nhưng đọc đi, đọc lại tôi lại thấy thích. Từ đó, tôi trở thành độc giả khá thường xuyên của trang “Tuấn Công Thư Phòng”, cứ có thời gian rảnh là tôi lại vào đọc. Tôi đặc biệt thích mục “Phê bình”, mục “Nghiên cứu” của trang. Nhờ đọc các bài của Anh, tôi mới tường tận những điều mà tưởng như mình đã biết (ví dụ như câu “Bắt chấy cho mẹ chồng, thấy bồ nông dười bể” hay câu “Mồng ba ăn rốn, mồng bốn ngồi trơ”...). Những bài viết của Anh đã làm cho độc giả hiểu đúng, thấy được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt. Cám ơn anh nhiều lắm.
Các con tôi cũng hay hỏi về từ, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, để giải thích cho các cháu tôi không dám giải thích theo cách mình hiểu nữa (chính là nhờ đọc các bài viết của anh) mà phải tra từ điển. Về từ tôi có đọc một lời khuyên của Anh cho một độc giả là nên chọn cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, nhưng tục ngữ, thành ngữ chưa biết chọn cuốn nào phiền anh chỉ giáo.
          Cũng nhờ anh giải thích giúp câu “Uống như hũ chìm” (Tôi hiểu là uống nhiều nhưng chưa rõ tại sao lại như hũ chìm).
          Một lần nữa cám ơn Anh. Chúc Anh mạnh khỏe, hạnh phúc và có nhiều bài viết hay.
          Kính chào Anh".
          Cảm ơn anh Nguyễn Sơn Phú (?) đã quan tâm tới Tuấn Công thư phòng. Về câu thành ngữ "Uống như hũ chìm", tôi xin trả lời như sau:
Các cuốn "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam" của nhóm Vũ Dung-Vũ Thúy Anh-Vũ Quang Hào, "Từ điển thành ngữ Việt Nam" (Viện ngôn ngữ học-Nguyễn Như Ý chủ biên) "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam" (GS Nguyễn Lân) "Thành ngữ Việt Nam lược giải" (Nguyễn Trần Trụ), "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam" (chọn lọc dùng cho học sinh-Nguyễn Bích Hằng) v.v...đều không thấy ghi nhận thành ngữ "Uống như hũ chìm". Bản thân tôi cũng lần đâu tiên được nghe. Có thể đây là câu thành ngữ không thuộc diện thông dụng ? Tuy nhiên, theo tôi, "Uống như hũ chìm" là một câu thành ngữ hay và được hiểu như sau:
          Về nghĩa đen: hũ là đồ đựng bằng sành hoặc bằng gốm, có hình dáng gần giống cái chum: đáy hóp lại, thân phình ra và cổ thắt lại. Hũ khác cái chum ở chỗ nhỏ hơn, đáy hóp hơn và cổ cũng bé, thắt lại nhiều hơn so với chum. Nếu so với chĩnh, hũ lại lớn hơn, miệng rộng hơn. Khi thả xuống nước, cái hũ tròng trành, "uống"  no nước rồi chìm nghỉm. Không nói bạn đọc cũng tưởng tượng ra lúc này bên trong hũ “căng” đầy nước, bên ngoài ngập trong nước. Thế là cả trong, cả ngoài đều chìm ngập trong nước.
Về nghĩa bóng: hình dáng cái hũ phình dần phần thân lên đến cổ trông giống như cái bụng uống nước no căng. Tiếng nước tràn vào lòng hũ và đẩy không khí thoát ra ngoài "òng ọc" nghe chẳng khác nào tiếng "nốc" ừng ực của người uống... Bây giờ, anh thử tưởng tượng một ai đó nhảy xuống cái bể rượu, uống căng một bụng rượu rồi chìm ngập trong cả cái bể rượu ấy.
Chúng ta thường có cách nói để ám chỉ việc uống nhiều bia rượu như: uống như trâu, uống như rồng, ngập trong bia rượu, được một hôm tắm bia v.v...Tuy nhiên, chẳng có kiểu so sánh, ví von nào sinh động, đắt hơn hình ảnh "Uống như hũ chìm": trong bụng đầy rượu, bên ngoài ngập rượu, chỉ toàn rượu là rượu...
Thành ngữ, tục ngữ thường có nhiều nghĩa đen  và nghĩa bóng. Hũ chìm còn có thể được hiểu là hũ rượu chôn xuống đất, đầy rượu bên trong (chìm theo nghĩa của chìm của nổi).
 Câu hỏi của anh, chúng tôi sơ bộ chọn cách hiểu như vậy. Mong có thêm ý kiến đóng góp của bạn đọc. Cuối cùng, cảm ơn anh Nguyen Son Phu đã bày tỏ tình cảm với Tuấn Công thư phòng vào đúng dịp Blog tròn 1 năm ngày đăng bài đầu tiên. Cũng mừng cho các cháu nhà ta còn nhỏ mà đã biết quan tâm tìm hiểu di sản thành ngữ tục ngữ dân tộc.

                                                                          HTC/5/9/2014

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Món ăn Tết Trung thu: Lươn Bung Củ Chuối

      Hoàng Tuấn Phổ

Kinh nghiệm dân gian cho biết: lươn có lươn độc, lươn lành. Lươn độc ăn chết người. Xem lươn, bắt bỏ vào xoong, chậu hoặc giành, rổ, hễ nó ngóc đầu lên như rắn là lươn rắn. Lươn thật bao giờ cũng chúi đầu xuống. Thế mới có câu “Thân lươn bao quản lấm đầu” !
Lươn ở dưới bùn nước rất khó bắt, lẩn trốn nhanh nhờ thân nó là một chuỗi dài đốt xương ngắn, co giãn mềm mại và nước da bóng láng, trơn lì. Được ưu điểm nọ, tạo hóa lại bắt lươn chịu nhược điểm kia. Đó là cặp mắt ti hí biểu hiện thị giác kém và cái tính hám ăn tham mồi nên dễ bị mắc bẫy. Lươn cư trú trong hang, đêm mò ra kiếm ăn. Thức ăn lươn thích nhất là giun chết ươn, mắc vào câu, nó không cưỡng nổi sự thèm muốn, đớp nhẹ một cái, lưỡi nhọn đóng ngay vào họng. Mùa nước to, lươn khát mồi kéo nhau đi kiếm ăn từng đàn. Người ta dùng trúm, đó đánh được nhiều, nhưng là lươn nhỏ. Thịt lươn đen, lươn vàng đều ngon. Riêng lươn vàng, thịt thơm ngon hơn. Lươn to bằng ngón tay ăn vừa. Loại lươn  to hơn là lươn già, xương cứng, thịt dai, ăn kém ngon.
Giống lươn khá nhiều nhớt tanh, vì thế thành ngữ có câu “Trút (hay đổ) nhớt cho lươn”. Nên dùng tro bếp tuốt lươn chóng sạch nhớt. Lại lấy lá chuối hột khô (chuối hột khô lá dai) tuốt thêm lần nữa, sờ tay vào da lươn thấy khô là được. Đem lươn rửa thật sạch, dùng dao nhỏ, mũi nhọn hoặc dao tách nứa rạch từ cổ xuống phía bụng moi hết ruột vứt đi. Chặt bỏ đầu đuôi lươn, thân úp sấp xuống thớt, dùng sống dao dần cho nát sống lưng và mềm thịt. Chặt lươn từng khúc ngắn chừng gần bằng hai đốt ngón tay để ướp gia vị: mẻ ngấu (chín vừa), hành khô đập dập, băm hơi nhỏ, vỏ quýt (nhiều quá ăn đắng), ớt thái bỏ hạt, ít mắm tôm (bỏ nhiều mùi hôi) và nước mắm ngon.
Cây chuối có nhiều giống, chỉ chọn cây chuối hột, lấy phần củ. Củ chuối hột khác các củ chuối khác: thịt nạc, thớ mịn, giòn, ít chát, không xơ. Cho nên thời xưa dù đói quá người ta phải ăn củ chuối trừ cơm, cũng chỉ dùng củ chuối hột. Chọn cây chuối hột non, cao chừng 50-70cm. Nếu dùng thân, bóc hết bẹ áo, thái mỏng tang, ngâm nước lã cho hết mủ. Nếu dùng củ, chọn gốc cây bụ bẫm, to phình, da tía. Gọt sạch vỏ, thái chỉ, ngâm nước lã khoảng một giờ để ra hết chất chát.
Củ chuối thái, ngâm, vớt ra, vẩy ráo nước, bóp với một ít muối trắng  cho ngon. Rồi bỏ củ chuối cùng với lươn đã ướp gia vị vào nồi trộn lẫn. Đun lửa, xào tai tái, sau đó đổ nước xăm xắp, đậy kín vung, khi sôi, bớt lửa, cháy liu riu. Vì nấu món này cần thời gian lâu để củ chuối chín mềm và lươn chín nhừ nên người Thanh Hóa gọi là “bung”. Củ chuối ăn mềm sần sật là được. Nếu củ chuối nhai thấy cứng, sồn sột là chưa chín. Bắc nồi “bung” ra, mở vung nghe đánh “phào”, chất tanh béo của lươn vàng trung hòa với chất chát nhẹ của củ chuối hột, cộng thêm vị chua chua của mẻ, thơm cay của vỏ quýt, ớt, vị ngọt đậm của mắm tôm...tạo thành thứ hương vị đặc biệt bốc lên ngào ngạt. Lúc này mới trộn thêm một ít lá lốt thái nhỏ để tăng thêm vị thơm ngon cho món ăn. Khi bỏ thêm gia vị lá lốt (hoặc thêm nước mắm, nếu nhạt) không được đảo mạnh, để miếng lươn không bị nát.
Món lươn bung củ chuối hoặc thân chuối phổ biến mọi làng quê trong tỉnh, chỉ khác nhau chút ít về cách nấu. Ví dụ: ở nơi sẵn lươn, nhiều lươn, người ta nắm từng nắm nhỏ củ chuối hoặc thân (đã thái), mỗi nắm quấn quanh một con lươn, lấy sợi lạt buộc chặt, cùng với nước gia vị đã ướp lươn thịt. Bung lươn củ chuối sôi chừng 40 phút, bung lươn thân chuối chừng 30 phút. Bắc nồi ra, ngoài lá lốt thêm mùi tàu thái nhỏ. Khi ăn, mỗi người một nắm lươn gắp lên bát con, kèm thêm ít nước, ăn nóng.
Ở xã Hà Lâm, huyện Hà Trung, lươn lột vỏ, bỏ xương sống, ướp với mẻ, nghệ, hạt tiêu, rau răm, mùi tàu, lá lốt. Củ chuối thái nhỏ, luộc chín, vắt khô nước, cũng ướp với các thứ gia vị trên, nắm thành nắm nhỏ bằng ngón chân cái, mỗi nắm cuốn quanh nửa con lươn (vì đã lột bỏ xương sống nên lươn chia hai phần), bỏ vào nồi bắc lên nấu cách thủy. Ăn với các thứ rau thơm: rau răm, rau ngổ, rau húng...món ăn này gọi là lươn cuộn. Bởi nấu cách thủy nên củ chuối phải luộc chín. Các ăn này, ăn lươn là chính, củ chuối là phụ, giữ được hương vị của lươn, nhưng phải có nhiều lươn. Vì có sẵn lươn, người ta còn quấn quanh củ chuối bé tí bằng cả con lươn to. Lượn cuộn không phải là món ăn phổ biến, và cũng không ai gọi là lươn bung củ chuối.
Có một câu ví hát dân gian rất hay về lươn bung củ chuối:
Cá rô quyện với nồi rang
Còn như củ chuối lươn vàng quyện nhau...
Tục xưa rằm tháng tám âm lịch, các cụ nấu món lươn vàng củ chuối hột, có lý do thời tiết: tháng tám mưa nhiều, củ chuối hột non mềm, ít nhựa, lươn mát bùn, sâu nước, kiếm được nhiều mồi nên béo. Món lươn bung củ chuối, với nhà giầu không cúng Tết Trung thu vì đã có xôi thơm thịt béo, cùng các thức cỗ bàn, bánh trái, chỉ nhà nghèo khó vẫn giữ lệ cũ dâng cúng tổ tiên, bảo tồn một thứ lễ nghi nông nghiệp từ thời thượng cổ của cư dân trồng lúa nước.
Buổi tối trải chiếu ngoài sân ăn cỗ Tết, trông trăng rằm. Các cụ ngày xưa cẩn thận đánh mâm đồng sáng quắc như gương để soi mặt trăng, nhìn cho rõ. Nhà không có mâm đồng, thay bằng nồi nước trong, đặt bên cạnh mâm cỗ. Quây quần chung quanh mâm cỗ, kẻ nhấm nháp, người đưa cay, đợi trăng rằm lên cao để xem trăng tỏ hay mờ, trăng tròn hay náu mà tính chuyện làm ăn, quyết định cấy giống lúa gì. Bởi thế có câu: “Làm ruộng tháng năm, trông trăm rằm tháng tám” và năm nào “Tỏ trăng rằm thì được lúa chiêm”
Theo y học dân gian, củ chuối có tính dương, con lươn tính âm, một “anh” quá nhiệt, một “chị” quá hàn. Lươn kết với củ chuối hột là cặp tình duyên đẹp, trung hòa âm với dương, là món ăn thích hợp với mọi người không kể dương thịnh hay âm hư, tác dụng “bổ trung”, nói theo thuật ngữ đông y, để điều hòa âm dương.
Ngày nay, nhiều nơi trong tỉnh, bà con thôn quê nấu lươn với củ chuối không chờ dịp Tết Trung thu như xưa. Và, lễ tục “làm ruộng tháng năm coi trăng rằm tháng tám” cũng đã lùi xa dần vào ký ức. Riêng tôi, mỗi khi gần đến Tết Trung thu, kỷ niệm xưa lại hiện về, như còn văng vẳng bên tai câu ví hát dân gian ngân nga trong những buổi đêm tháng tám trăn thu  sáng tỏ:
Đương cơn bình địa ba đào
Ai đem củ chuối mà ngào với lươn !


HTP (Rút từ tập Văn hóa ẩm thực làng quê xứ Thanh)

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Nhớ một Tết Độc Lập buồn và 30 năm Bài thơ "chống Đảng”

Ông Hoàng Tuấn Phổ tuổi 80

              Hoàng Tuấn Công

     Mùng Hai Tháng Chín năm Giáp Tý 1984 là một ngày buồn trong một năm buồn của gia đình tôi. Sau gần 20 năm theo Đảng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, Huy chương chiến sĩ văn hóa(hai lần), Cha tôi bỗng bị buộc thôi việc, khai trừ Hội tịch, trả về địa phương-nơi cũng chừng ấy năm trước, ông đứng dậy từ vũng lầy thời cuộc. Nhưng lần này trở về làng cũ, trên đầu ông nặng thêm một tội danh-một tội danh tày trời: Tội "chống Đảng” !
Tôi nhớ, bởi chuyện buồn ấy xảy ra đúng vào dịp Tết Độc Lập dân tộc. Chính xác, Cha tôi phải chấp hành Quyết định buộc thôi việc sau Tết Độc Lập một ngày: Ngày 3 tháng 9 năm 1984. Thế là mọi phấp phỏng hy vọng được minh oan của cả nhà tôi kéo dài từ mùa xuân sang mùa hè, đến mùa thu thì chấm dứt. Mẹ tôi tần tảo, sẵn sàng hy sinh, chịu đựng tất cả vì chồng con, nhưng bà không chịu nổi những lời dị nghị của làng xóm. Khi ấy tôi đã 14-15 tuổi nên cũng hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tội "chống Đảng" lớn lắm, nhục nhã lắm ! Nó đồng nghĩa với tội Việt gian phản động ! Hai đứa em tôi bé nhỏ chưa hiểu gì, nhưng thấy bố mẹ, các anh buồn, chúng cũng buồn lây.
Thông thường, Mùng Hai Tháng Chín hàng năm, xóm làng tôi vui như Tết. Trẻ con vui đùa, thanh niên cắm trại, tổ chức chơi trò "Hái hoa Dân chủ". Và bao giờ làng cũng có một tiết mục đặc biệt được già trẻ, gái trai chờ đợi là "màn" mổ lợn ăn mừng Tết Độc Lập. Tôi thường sốt sắng với nhiệm vụ đi nhận phần thịt cho nhà mình. Ở làng có mấy ông chuyên chia thịt và chia rất khéo. Thật khó có thể chọn ra một phần thịt nào nhiều hơn, ngon hơn. Phần nào cũng như phần nào, thịt, xương, mỡ, nạc...có đủ cả trong từng khóm. Nhà ai cũng có một phần khá tươm tất. Mấy tháng mới được bữa cơm thịt no nê, bọn trẻ con chúng tôi vui đến mức cứ tưởng ngày này trên thế gian ai ai cũng được sung sướng như mình ! Nhưng năm ấy, nhà tôi không có Tết Độc Lập. Và lần đầu tiên trong đời tôi nhận thấy lẽ công bằng thật không đơn giản...
Đồng thời với kỷ luật buộc thôi việc, đề nghị đình bản tiểu thuyết lịch sử "Mai vàng chùa Tháp" ở NXB Thanh Niên, Hội văn nghệ Thanh Hóa tuyên bố đã gửi công văn đi các cơ quan, tạp chí đề nghị không xuất bản sách và in bài của kẻ "chống Đảng" Hoàng Tuấn Phổ. Thế là, cánh cửa mà Đảng từng mở ra con đường chữ nghĩa cho Cha tôi, nay lại bị đóng sập lại. Trước khi đi "thoát ly", Cha tôi từng cổ cày vai bừa ở quê. Nhưng lần này trở về, dù nặng gánh trên vai, Mẹ tôi không muốn ông lại tiếp tục công việc đồng áng... Cha tôi cũng quyết định bỏ bút, cầm dao cầu làm nghề thuốc, châm cứu chữa bệnh. Nhà tôi trở thành cái xưởng bào chế thuốc nho nhỏ. Phần chúng tôi, chỉ còn biết cố gắng ngoan ngoãn học hành để cha mẹ vơi đi nỗi buồn.
Vậy mà bể dâu thoáng chốc đã 30 năm tròn !
Chắc bạn đọc không khỏi thắc mắc, muốn biết Cha tôi “chống Đảng” như thế nào? Vâng, ông “chống” bằng một bài thơ Thất ngôn bát cú ! Nghĩa là ông tham gia cuộc thi “Xướng họa thơ vui, năm Tý nói chuyện chuột” do báo Đảng Thanh Hóa mời. Nói cách khác, "chống Đảng" theo lời mời của "Đảng". Thơ ông “Họa” lại bài “Xướng” của ông Hà Khang và Mai Bình-Chủ tịch Hội văn nghệ Thanh Hóa. Tôi nhớ như in hai bài thơ này:
Bài “Xướng” do ông Mai Bình chấp bút:
Năm Tý về đây nhắc chuyện đời
Không coi chừng chuột, chuột sinh sôi !
Chùm nem sơ hở con chù vọc
Đĩa chả thờ ơ lũ cống lôi !
Lạ nhỉ ? chơi không toan gọn lốm,
Ở kìa ! ngồi rỗi chực ngon xơi !
Hẹn nhau sắm bả phòng năm chuột
Hễ chúng bò ra giết tiệt nòi !
Bài “Họa” của Cao Đăng (Cha tôi-Hoàng Tuấn Phổ):
Giống chuột làm sao vẫn sống đời ?
Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi !
Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu,
Của để tớ thầy hợp sức lôi !
Tiếc lọ chê ai đành chuột phá,
Hoài cơm trách bạn để mèo xơi !
Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc,
Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !
Đọc xong chắc có độc giả phì cười mà bảo rằng: chúng tôi chỉ thấy đây là bài thơ “chống chuột” chứ làm gì có chỗ nào “chống Đảng” nhỉ ? Đúng vậy, thưa bạn đọc yêu mến ! Đây là bài thơ vui "chống ông Tý”, “nói chuyện chuột” 100% (như chủ đề cuộc thi “Xướng họa thơ vui năm Tý nói chuyện chuột” đã đề ra)

          Này nhé: Giống chuột hại, đục khoét từ thượng cổ đến giờ. Thời nào con người cũng tìm cách diệt chuột, và diệt được khá nhiều. Vậy mà chúng “vẫn sống đời”, “Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi”. Vì sao ? Vì giống này rất mắn đẻ và cực tinh quái trong cuộc chiến sinh tồn. Chúng hay rúc rích kéo nhau đi ăn. Thứ cùng đánh chén tại trận, thứ hợp sức lôi về hang dùng dần. Khó mà bẫy bắt được chúng. Người xưa có câu “Ném chuột sợ vỡ bình quý” nên đôi khi chuột nhờ cơ hội đó mà sống sót. Nhiều con mèo được nuôi để bắt chuột, nhưng chỉ giỏi ỉa bếp, để chuột ngang nhiên hành hoành, quả là “hoài cơm”, đáng trách. Bài “Xướng” của Mai Bình đề xuất: “Hẹn nhau sắm bả phòng năm Chuột, Hễ chúng bò ra giết tiệt nòi”. Nhưng giống chuột đa nghi có khả năng "xuất quỷ, nhập thần", "thiên biến vạn hóa". Chấp nhận cho chúng tồn tại trong hang hốc là cách đánh chuột nửa vời và thụ động. Cao Đăng đề xuất biện pháp đánh chuột của dân gian, triệt để, quyết liệt hơn: “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi”. Nghĩa là đánh vào tận sào huyệt giống đục khoét ! Lại chủ trương diệt cả chuột cống, chuột lỗ-loại chuột kếch xù mà họ nhà mèo không dám đụng đến. Rồi chuột nhắt, "chi chi" chuột...hễ đục khoét, ăn hại đều diệt hết !

Tôi dù ở tuổi thiếu niên cũng đã đủ khôn để cảm nhận đây là bài thơ hay, nghĩa bóng chống lại những tiêu cực thời nào cũng có. Mẹ tôi là nông dân chất phác, dù lòng đang nặng trĩu nỗi buồn, khi nghe bài thơ "chống Đảng" của Cha tôi cũng phải tủm tỉm cười khen...hay, và nói: “Tôi chả thấy ông chống Đảng ở chỗ mô cả !” Có lẽ cuối cùng dù Cha tôi không thoát được tội tày đình, nhưng tự lòng Mẹ tôi đã cảm thấy vô tội và thanh thản.
Nhà tôi tuy nghèo nhưng từ nhỏ chúng tôi được bố mẹ cho ăn học, giáo dục tử tế. Cha tôi luôn nhắc nhở con cái: “Nhà ta được như ngày nay là nhờ có Đảng, các con phải cố gắng học hành, phấn đấu, đi bằng chính đôi chân của mình, sống có ích cho gia đình, xã hội”. Tôi biết rõ Cha tôi là người thế nào. Tôi không tin ông chống lại những chủ trương mà thường ngày tôi vẫn nghe ông ca ngợi là đúng đắn và tiến bộ.
Thế nhưng “có người” đại diện cho Đảng lại động lòng, tự thấy mình trong bài thơ "chống chuột" và cho rằng “nó” đang “chống” mình ! Họ phân tích như sau: “Con đàn cháu lũ” ở đây ý chỉ “con ông cháu cha” đời nối đời hưởng đặc quyền đặc lợi. “Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu, Của để tớ thầy hợp sức lôi” ám chỉ chuyện vây bè, kéo cánh, ăn cắp của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc với nhau. Của ít chia nhau ăn, của nhiều hợp sức lôi về nhà làm giàu. Không thể chấp nhận được ! Chế độ này là khối "đại đoàn kết", chỉ có quan hệ “đồng chí” "đồng nghiệp", tại sao lại có từ “bè cánh”, “tớ thầy” ở đây ? Cao Đăng nói “Tiếc lọ”, thì “lọ” cũng là “bình”. Mà “bình” không phải “Mai Bình” còn ai vào đây ? Hóa ra, cấp trên vì nương tay với “Bình” nên không chống tiêu cực ? Thật quá "thâm ý" ! “Hoài cơm trách bạn để mèo xơi”, “mèo” đây đích thị là những người nắm pháp luật rồi ! Dám nói họ là “hoài cơm” sao ? Lại còn định “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc, Cống lỗ chi chi cũng hết nòi !” Cao Đăng muốn “diệt” tận gốc, từ “ông to” đến “ông nhỏ” kia ư ? (đoạn này tôi nhớ lại theo lời kể của Cha tôi sau mỗi tuần trở về nhà với gương mặt mệt mỏi, thất vọng...)
Thế là họa lớn ! Chín tháng trời ròng rã, Cha tôi chỉ làm mỗi công việc trần tình, kiểm điểm, mất ăn mất ngủ... Rốt cuộc ông vẫn không thể nào thanh minh được. Đúng là: "Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây" !
Năm Mậu Tý 2008, ông Khương Bá Tuân-nguyên PGĐ Sở NN và PTNT Thanh Hóa hỏi tôi: “Cậu còn nhớ bài thơ xướng họa “Năm Tý nói chuyện Chuột” của ông Phổ không? Thỉnh thoảng các cụ trong câu lạc bộ Hàm Rồng có hỏi. Mình thì chỉ nghe nói chứ cũng đã được đọc đâu. Nếu cậu còn nhớ chép lại cho mình một bản làm kỷ niệm” Tôi trả lời: “Cháu nhớ. Mậu Tý năm nay là 24 năm bài thơ họa năm Tý nói chuyện chuột. Cháu có nói với Bố cháu nhân đây nên kể lại sự việc để mọi người hiểu. Nhưng ông Cụ bảo, “Thôi, chuyện đã qua rồi...Mình nhắc lại người ta lại hiểu lầm là gợi chuyện cũ...”
Tôi hiểu. Sau nhiều tai bay vạ gió từ thời Cải cách ruộng đất và Đấu tranh chính trị, Cha tôi giống như con chim sợ làn cây cong vậy. (Xem thêm) Thế nên ông mới viết: "Sờ râu lão Tý tay còn nhớp, Chạm vía cụ Mèo mạng suýt toi !"
Ngày Tết Độc Lập 2014 năm nay khiến tôi lại nhớ về ngày buồn cách đây đúng 30 năm trước. Lần này ông Cụ đã đồng ý cho Tuấn Công thư phòng công bố Bản trần tình “Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?” từng đọc tại Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa cách đây 25 năm về trước, sau khi ông được phục hồi công tác. Xin trích đăng để bạn đọc hiểu rõ thêm câu chuyện nhỏ của gia đình tôi trong muôn vàn câu chuyện lớn khổ đau của "Biển cả đời người":
Có hay không có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá ?
(Bài phát biểu của Hoàng Tuấn Phổ đã trình bày tại Đại hội văn học nghệ thuật Thanh Hoá lần thứ III vào lúc 2 giờ chiều ngày khai mạc 22/5/1989 tại hội trường tỉnh 25B)
"Thưa ông Bí thư tỉnh uỷ Lê Huy Ngọ
Thưa Ban thường vụ Tỉnh uỷ và các đại biểu,
Thưa Đại hội
          ...Theo sự khẳng định của Ban thường trực Hội do Ô. Mai Bình làm Chủ tịch, có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hoá và Hoàng Tuấn Phổ là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức ấy.
Bút tích một số trang của bản Điều trần
Dịp Tết Giáp Tý (1984) báo Thanh Hoá phối hợp với các cơ quan Sở văn hoá-thông tin, Đài phát thanh tỉnh, Hội văn nghệ mở cuộc thi hoạ thơ vui với tiêu đề “Năm Tý nói chuyện chuột”.Bài xướng do Mai Bình chấp bút (nghe nói bài này chẳng những đã thông qua Ban thường vụ tỉnh uỷ mà còn được ông Bí thư Tỉnh uỷ Hà Trọng Hoà phê duyệt) và báo Thanh Hoá mời tôi tham gia, sau đó đã đăng bài hoạ của tôi ký tên Cao Đăng. Số báo này vừa mới phát hành, bản thân tác giả chưa được nhìn thấy bài mình in ấn ra sao đã bị Ban thường trực Hội gọi bảo: bài thơ hoạ của Cao Đăng, theo các đồng chí lãnh đạo cấp trên, sai lầm về quan điểm. Tôi hỏi: sai lầm về những “điểm” gì, xin chỉ rõ, thì không được giải đáp cụ thể. Rồi chẳng hiểu căn cứ vào đâu: Bài thơ hoạ của Cao Đăng bị qui là có tư tưởng chống Đảng vào người ta tiến hành khá khẩn trương, gay gắt và kiên quyết một số biện pháp như hội họp lãnh đạo để phân tích phê phán bài thơ, bắt tác giả phải viết tự kiểm điểm, gây dư luận quần chúng phản đối tác giả, vận động cán bộ, nhân dân, văn nghệ sĩ trong tỉnh gửi kiến nghị lên án tác giả và viết bài gửi tới Báo Thanh Hóa phê phán bài thơ, rồi về địa phương tác giả lập hồ sơ bịa tạc,v.v...nhằm tạo ra một vụ án văn học(1). Ông Mai Bình, Chủ tịch Hội cho biết: “Đáng lẽ Sở công an Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh khởi tố vụ án này, nhưng Ban thường trực Hội xin để Hội giải quyết nội bộ. Vậy thái độ của tác giả phải hết sức thành khẩn”. Tôi nói: “Tôi không thấy mình mắc sai lầm ở chỗ nào”Ông Hà Khang phó Chủ tịch Hội, gợi ý: “Kiểm điểm theo dư luận của cán bộ và nhân dân phê phán nội dung tư tưởng xấu của bài thơ”. Tôi nói: “Dư luận thì không phải cái gì cũng đúng. Có người bảo tôi đả kích ông này ông nọ, nhưng cũng có người cho rằng: không có “xướng” thì sao có “họa”,v.v...tôi biết theo “dư luận” nào ?" Ông Vương Anh, phó chủ tịch Hội (Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam) bắt tôi phải thú nhận theo tinh thần một bài viết dưới mục “Ý kiến bạn đọc” trên báo Thanh Hóa phê phán thơ họa của Cao Đăng là xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ. Bài này ký tên Phạm Trung Thực (Thị xã Thanh Hóa). Ông Vương Anh nhấn mạnh là bài của “ông to” cấp trên viết (thực ra do ông Vương Anh viết). Tôi nói: “Nếu là “ông to” cấp trên thì bài viết phải ghi rõ họ tên thật và chức vụ thì tôi mới chấp hành nghiêm túc kiểm điểm, còn như người viết dù “to”cỡ nào, ở “cấp” nào mà lại nhân danh “bạn đọc” thì trên nguyên tắc thông thường bạn đọc có quyền khen, chê, và tác giả được quyền tiếp thu hay không tiếp thu”. Nhưng ông Vương Anh vẫn không cho biết rõ Phạm Trung Thực là ai và vẫn nhắc lại rằng tôi phải kiểm điểm theo hướng đó. Ông Vương Anh nói thêm với tôi và một số anh em văn nghệ như Trọng Miễn, Đào Phụng, Xuân Quảng, Nguyễn Ngọc Quế và nhiều chị em khác rằng: trong cuộc họp Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập lãnh đạo Hội văn nghệ để bàn xét về vấn đề thơ chống Đảng, ông Vương Anh liếc nhìn vào sổ tay ông Lê Xuân Sang (Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy) và ông Quách Lê Thanh (Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy) đều thấy cùng ghi một dòng chữ: “Hoàng Tuấn Phổ chống Đảng”. Điều này không biết có thực hay không, nhưng chẳng riêng gì tôi mà các anh em khác cũng đều hết sức hoang mang lo sợ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không thể làm vừa lòng Ban thường trực Hội nói chung và ông Phạm Trung Thực nói riêng vì không hề nhận ra mình đã mắc những sai phạm chính trị trong bài thơ họa ký tên Cao Đăng. Sau những cuộc kiểm điểm liên miên ngày này qua tháng khác, Ban thường trực Hội kết luận tôi là “thái độ kiểm điểm không thành khẩn kéo dài” (9 tháng).
Cũng trong thời gian này, anh Minh Hiệu (Nhà thơ) có 8 bài thơ, Ban thường trực Hội coi như là “8 phát súng đại bác” nã vào Tỉnh ủy. Ông Vương Anh nói: trong khi ông Minh Hiệu tấn công trực diện vào Đảng thì Hoàng Tuấn Phổ gián tiếp đả kích những cán bộ lãnh đạo của Đảng. Anh Xuân Hùng vẽ bức tranh “Chuẩn bị thóc nhập kho”, vì góc bức tranh có vẽ một cây rơm, chung quanh có mấy em bé đang đùa chơi, ông Mai Bình và Ban thường trực Hội bảo là “cây rơm to hơn đống thóc tức là mất mùa thì lấy thóc đâu nhập kho? Phải chăng tác giả ẩn ý rằng thành tích nông nghiệp của ta chỉ là giả tạo ?” (Trong thực tế, dù được mùa lớn, rơm vẫn nhiều hơn thóc !) Bức tranh vẽ một đàn ngựa của anh Đỗ Chung, bị ông Mai Bình lộn ngược dưới lên để xem và nhận xét là tác giả vẽ toàn là các bộ phận kín của phụ nữ ! Cũng một bức tranh khác của Đỗ Chung, ông Vương Anh bảo: “Cái mặt trời tím mọc trên cánh đồng lúa là con số không, ý tác giả muốn nói “nền nông nghiệp nước ta chỉ là con số không !”. Còn nhiều trường hợp nữa tôi không tiện dẫn hết ra đây.
Cứ cái kiểu suy diễn, phán xét nguy hiểm đó, trong công việc đọc duyệt tác phẩm, các ông Mai  Bình, Hà Khang, Vương Anh đã dần dần hệ thống hóa các tác phẩm, quy tụ các hiện tượng để tiến tới khẳng định ở Thanh Hóa có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Ông Mai Bình thay mặt Ban thường trực Hội bảo tôi: “Cho dù anh có phải nhận hình thức kỷ luật ra khỏi cơ quan văn phòng Hội thì anh cũng phải khai ra những kẻ cùng hội cùng thuyền để giúp Đảng lãnh đạo phong trào văn nghệ tỉnh nhà được tốt”.
Sáng 27/5/1984, tại phòng ông Trần Kháng (Trưởng ban hành chính trị sự của Hội) ông Hà Khang thay mặt Ban thường trực Hội yêu cầu tôi phải trả lời những câu hỏi:
          1.Tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa gồm những ai, do ai cầm đầu ?
          2.Tổ chức này đã có nhiều cuộc tọa đàm, vậy anh đã dự những cuộc tọa đàm nào, các anh đã bàn bạc hoặc tiến hành những vấn đề, những công việc gì ?
          Tôi hỏi lại ông Hà Khang:
          1.Ban Thường trực Hội căn cứ vào đâu để khẳng định tôi có tham gia tổ chức Văn nghệ sĩ chống Đảng ?
          2. Ban Thường trực Hội hiểu thế nào về chữ “tọa đàm” ? Nếu tọa đàm là những cuộc trà lá mấy anh em văn nghệ ngồi tán gẫu về văn chương thì thường xuyên có và chẳng có gì là chống Đảng cả. Còn như về một tổ chức nào đó có hoạt động chống Đảng thì tôi không hề biết. Và, nếu Ban thường trực Hội đã biết chắc có những cuộc tọa đàm như ông (Hà Khang) nói thì xin ông dẫn ra cụ thể.
         
Ông Hà Khang ngồi im lặng một lát rồi nói: “Chỉ thị của lãnh đạo cấp trên là Ban thường trực Hội phải làm sáng tỏ vấn đề chống Đảng của một số văn nghệ sĩ trong tỉnh. Vậy anh phải viết ngay bản tường trình về tất cả những gì anh biết về tổ chức này, về những cuộc tọa đàm mà anh được dự !”
          Tôi nói “tôi không biết gì về những điều Ban thường trực Hội cần biết, do đó tôi không thể làm bản tường trình được”.
          Ông Hà Khang liền nói: “Đây là chỉ thị của cấp trên, là lệnh của đồng chí lãnh đạo cao nhất, anh phải chấp hành nghiêm túc. Ngày mai anh phải xong bản tường trình gửi Ban thường trực Hội”. Nói xong, ông Hà Khang đứng dậy chấm dứt buổi làm việc, không cho tôi trình bày hay hỏi han gì hơn.
          Chấp hành lệnh của lãnh đạo, tôi phải viết bản tường trình cũng chỉ là nhắc lại những điều tôi đã nói ở trên (có đi sâu chi tiết hơn) vì không biết nói gì khác. Tôi đề nghị Ban thường trực Hội công bố bản kiểm điểm của tôi ngày 28/5/1984 vấn đề sẽ được chứng minh cụ thể. Sau đó, tôi được biết, trong khi ông Hà Khang thẩm vấn tôi ở Văn phòng Hội thì ông Mai Bình gọi anh Xuân Quảng (họa sĩ công tác cơ quan văn phòng Hội) tới Sở văn hóa-thông tin (Vì ông Mai Bình là Phó giám đốc Sở kiêm Chủ tịch Hội) để tra hỏi cũng với nội dung vấn đề như ông Hà Khang hỏi tôi. Ông Mai Bình còn bịa ra là Hoàng Tuấn Phổ đã thú nhận và khai báo hết cả rồi, và dọa là nếu Xuân Quảng không thành khẩn sẽ chịu kỷ luật nặng hơn.
Cũng trong những ngày này, ông Mai Bình báo cáo đề nghị sở Công an Thanh Hóa về địa phương tôi lấy hồ sơ lí lịch theo hướng đem vụ việc chống Đảng ở địa phương kết hợp cùng ông Giá Tổng biên tập báo Thanh Hóa tố cáo tôi 3 đời chống Đảng v.v...(Vấn đề này còn liên can tới nhiều đối tượng khác, tuy ở mức độ và hình thức không giống nhau như trường hợp buộc anh Phạm Văn Sĩ cán bộ Biên tập NXB Thanh Hóa phải chuyển công tác đi xa, nếu không thì phải thôi việc, trường hợp cô Út ở phòng lưu trữ UBND tỉnh phải chuyển công tác về thị ủy Thanh Hóa, vì cô Út có chồng là anh thương binh Lê Viết Khảm, khen thơ họa của Cao Đăng, v.v...)
Sang tháng 6 năm 1984, tôi còn phải viết đi, viết lại nhiều lần các bản tường trình, kiểm điểm xoay quanh vấn đề trên vì vẫn liên tục bị các ông trong Ban thường trực Hội luân phiên gọi lên thẩm vấn, gợi ý, khuyên bảo. Đầu tháng 8 năm 1984, có lẽ xét thấy không thể khai thác được gì ở tôi như ý lãnh đạo mong muốn và vấn đề thơ họa Cao Đăng cũng không nên để dư luận kéo quá dài, ông Mai Bình gọi tôi, nói: “Hội đồng kỷ luật sắp họp, anh không tránh khỏi kỷ luật, chỉ còn ở mức độ kỷ luật có thể nặng hay nhẹ. Nhưng trước khi nhận kỷ luật, anh có muốn lên gặp lãnh đạo cấp trên như bác Hà Trọng Hòa, bác Tống Xuân Nhuận để trình bày những điều anh không muốn nói với chúng tôi thì để chúng tôi bố trí anh lên gặp ?” Tôi đáp: “Hiện tại, tôi không có gì khác ngoài những điều tôi đã viết trong các bản kiểm điểm để trình bày với lãnh đạo cấp trên.” Ông Mai Bình lại hỏi: “Thế anh có suy nghĩ gì về vấn đề kỷ luật ?” Tôi trả lời: “Tôi chỉ nghĩ là tôi không có tội lỗi gì. Nếu như có sai lầm thì tôi chỉ sai lầm ở chỗ đã tham gia vào việc xướng họa thơ.” Rồi tôi đề nghị đưa vấn đề ra trước một cuộc hội thảo văn học của anh em văn nghệ Thanh Hóa, nhưng ông Mai Bình không chấp nhận. Rốt cuộc, tôi vẫn bị Ban thường trực Hội qui kết là một hạt nhân, một thành viên của tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng. Kết luận này cũng được một số nhà lãnh đạo cấp tỉnh đồng tình, nhất trí, ở đây tôi thấy không cần thiết nêu rõ họ tên, chức tước (4). Cho đến nay, tôi vẫn không thể tự giải thích nổi tại sao Ban thường trực Hội lại bịa đặt cái chuyên tày trời đó, và bịa đặt ra nhằm mục đích gì ? Có đúng là Ban thường trực Hội chỉ làm cái việc vâng lệnh lãnh đạo cấp trên và lãnh đạo cấp trên là những ai, lãnh đạo cao nhất là ai ? Tại sao các nhà lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa lại nhằm tiêu diệt hoặc đánh vào những người cầm bút ở địa phương mình ? Hay là có một tổ chức văn nghệ sĩ chống Đảng ở Thanh Hóa thật ? Mặc dù Đảng ta đã có chính sách mới, văn nghệ sĩ được tuyên bố là được “cởi trói” tôi vẫn không thể yên tâm vì chắc là những bản báo cáo mật của Ban thường trực Hội, của một số cá nhân ố nhân thắng kỷ, những chỉ thị, những lệnh riêng của Tỉnh ủy và có thể là cả hồ sơ vụ án văn nghệ sĩ Thanh Hóa chống Đảng, đang lưu trữ tại một chỗ nào đó, rồi biết đâu, khi có cơ hội, kẻ xấu bụng, ác ý hay chính các ông Mai Bình, Hà Khang, Vương Anh lại khui ra thì sao ? Vì vậy, tôi đề nghị Đại hội buộc Ban thường trực Hội (khóa II) phải:
1.Công bố toàn bộ hồ sơ về vụ án văn nghệ sĩ Thanh Hóa chống Đảng mà các ông soạn thảo bí mật.
2.Nói rõ, các ông tiến hành âm mưu này xuất phát từ đâu, nhằm mục đích gì?
3.Về việc xử lý oan cho cán bộ và việc vu khống anh em văn nghệ sĩ chống Đảng phải được minh oan, phải được giải quyết theo luật lệ hiện hành, và về phía Ban thường trực Hội từng người phải nhận kỷ luật thích đáng.
          Thưa...
Thanh Hóa trong lịch sử đã xảy ra một số vụ án văn chương, có vụ, án xử tới tử hình. Để phòng ngừa cái tai họa văn chương, tôi nghĩ chúng ta nên nhớ lại lời dạy của Lê-nin. Trong sách “Lê-nin bàn về văn học nghệ thuật”(NXB Sự thật-1960) có in bài báo nổi tiếng: “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng” Lê-nin viết: “Mỗi người đều có tự do viết tất cả những điều họ muốn viết và nói tất cả những điều họ muốn nói, không một chút hạn chế nào. Nhưng như vậy thì mỗi đoàn thể tự nguyện, tự giác (trong số đó kể cả Đảng) cũng đều được tự do đuổi cổ những phần tử lợi dụng chiêu bài Đảng để cổ vũ những quan điểm trái ngược với Đảng” Lời dạy sáng suốt và công bằng đó của Lê-nin cần được áp dụng với tất cả những kẻ “lợi dụng chiêu bài Đảng” để thực hiện những mưu đồ thâm hiểm, xấu xa, thấp hèn của chúng.
Và, tôi đề nghị Điều lệ của Hội ta nên đề cập cụ thể vấn đề này./.

                    Ngày 22 tháng 5 năm 1989                                                         
Chú thích:
          -Vì không có đủ cơ sở lý luận buộc tội tôi về bài thơ họa, Ban thường trực Hội bịa đặt cho tôi một số khuyết điểm về ý thức tổ chức để thi hành kỷ luật: đuổi ra khỏi cơ quan Nhà nước và khai trừ khỏi Hội (/9/1984). Ngày 8/11/1988 Hội nghị toàn thể hội viên Hội văn nghệ Thanh Hóa đã quyết định phục hồi Hội tịch cho tôi, nhưng còn vấn đề xử lý kỷ luật sai về tổ chức cán bộ đến nay vẫn chưa được giải quyết (sửa sai) do sự cố ý chống lại của Mai Bình và Vương Anh đối với tôi.
          -Theo nguồn tin đáng tin cậy, nếu Hà Trong Hòa giữ vững ghế Bí thư Tỉnh ủy thêm 6 tháng nữa, tôi và một số người nữa sẽ bị ghép vào vụ án chính trị Lường Mạnh Hòa (con trai Lường Mạnh Huân đã bị chính quyền cách mạng xử tử hình)
          -Bài phát biểu này được Đại hội vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, nhưng do thời gian hạn chế của Đại hội, vấn đề tôi nêu ra không có điều kiện giải quyết kịp thời..."
*Phần chú thích này không có trong bản trình bày trước Đại hội".

(Hết trích nội dung điều trần trước Đại hội của Hoàng Tuấn Phổ)

          Vài lời nói thêm:

Bây giờ, làng tôi không còn mổ lợn chia thịt ăn mừng Mùng Hai Tháng Chín như ngày trước nữa. Bọn trẻ con cũng chẳng có được cảm giác vui sướng đón Tết Độc Lập bằng một bữa cơm thịt no nê như chúng tôi thuở nào. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ ngày xưa mỗi lần đứng xem chia thịt, sốt ruột chờ lấy phần, tôi thường nghĩ về câu chuyện đọc lỏm được trong sách của Cha tôi, và thú vị với ý nghĩ, trong đám đông chỉ mình tôi biết: Bên Tàu có ông Trần Bình chia thịt cho làng rất đều, các bô lão đều khen ngợi. Trần Bình đáp: "Ngày sau Bình này mà được làm Thừa tướng thì cũng khéo như việc chia thịt hôm nay vậy". Quả nhiên, sau này Trần Bình trở thành Thừa tướng nổi tiếng đời Hán Lưu Bang. Vậy mà mấy người chia thịt ở làng tôi họ không hề biết rằng mình rất giỏi và cái nghề chia thịt của họ đã từng được nhắc đến trong sử sách nước Tàu ! Lớn lên tôi mới hiểu, ông Trần Bình vốn là người có trí tuệ siêu phàm, dường như sinh ra để làm Thừa tướng. Bởi vậy có thể nói ông là một Thừa tướng đi chia thịt, khác với những Kẻ chia thịt làm Thừa tướng trên đời !
Bản nháp Công văn đề nghị khôi phục
công tác cho HTP do Nhà văn Đặng Ái
Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa ký
Trở lại với câu chuyện Một Tết Độc Lập buồn của gia đình tôi. 
Đ/c Hà Trọng Hòa-Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, sau đó đã bị kỷ luật Đảng. Cha tôi-Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ sau khi được phục hồi công tác, ở tại Khu tập thể Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Các ông Mai Bình, Vương Anh thỉnh thoảng vẫn lui tới gặp gỡ, trò chuyện. Khi triển khai Dự án khôi phục Lam Kinh, ông Mai Bình không đồng ý với một số phương án, tuy nhiên chưa có dịp trình bày. Trước khi mất ông Mai Bình có giao lại văn bản và nhờ Hoàng Tuấn Phổ sau này có điều kiện thì công bố (hiện HTP còn giữ).

         
Ba mươi năm trôi qua, nhiều kẻ đã "ra đi", nhưng cũng không ít người còn "ở lại". Thuở "Đánh chuột vỡ bình, thơ sứt trán", Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ mới ở độ tuổi 50, nay đã thành Ông Lão Tám Mươi. Hàng ngày ông vẫn miệt mài dồn tâm huyết cho công trình "Tinh hoa văn hóa xứ Thanh". Quan điểm của ông là oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Tuy nhiên, những câu chuyện cũ như thế này người ta lại không được phép quên. Bởi đó là một phần của lịch sử và cũng là một trong những bài học đắt giá của quá khứ. Đây chính là lý do 
Tuấn Công Thư Phòng nhớ lại "Ngày này năm xưa". 

 



Hoàng Tuấn Công/Ngày nghỉ Tết Độc Lập/2014