Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

“Đả thảo kinh xà” và màn “Kim thiền thoát xác” của Báo Đất Việt

       Hoàng Tuấn Công
         Ngày 8/8/2014 Blog Tuấn Công Thư Phòng có bài viết "Sự ngụy tạo ác ý trong "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa", ký tên Huỳnh Cống Tuân. Sau đó, bài này được đăng trên Quê Choa với bút danh Đoài Thôn Nhân.

Bài viết lật tẩy kẻ "ngụy tạo"bài văn viết thư của học sinh trường Tiểu học Kim Đồng-Quy Nhơn, dựng chuyệnquan hệ bất chính giữa một Công an phường tên Thanh với vợ một người lính đảo, mặt khác phê phán một số báo đã vô tình "nối giáo cho giặc" như “Đời sống pháp luật" (Cơ quan Trung ương Hội Luật gia Việt Nam), “Báo Đất Việt” (baodatviet.vn-Diễn đàn của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) Việt Báo (Vietbao.vn -Trung tâm báo chí và hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI)-Bộ thông tin và truyền thông đăng lại từ Báo Đất Việt-Ban đầu, bài viết của chúng tôi có nêu tên báo này, sau tìm lại, không biết do trục trặc thế nào không thấy đường link, chúng tôi sợ mình nhầm nên gỡ bỏ) Bài của Tuấn Công Thư Phòng được nhiều Blog đăng lại và bạn đọc quan tâm, chia sẻ. Đa số ý kiến bạn đọc đồng tình với quan điểm của chúng tôi.
Vậy trước dư luận bạn đọc, các báo phản ứng thế nào ? 
Ngày 11/8/2014 thấy Báo “Đời Sống Pháp Luật" đã gỡ bài đăng (chỉ còn lại đường link tên bài, kích chuột vào thấy hiện ra đầu báo ĐSPL, nhưng bài bị báo lỗi). Hai Báo Đất Việt và Việt Báo vẫn hiện bài đăng bình thường. Sau đó, dư luận lại xôn xao về một bài báo khác có tên "Gái miền Tây và 3 chữ N nổi danh thiên hạ". Ngày 15/8/2014, Bộ Thông tin truyền thông ra quyết định phạt 207 triệu đồng và đình bản Trí thức trẻ 3 tháng vì vụ này. Lại thử xem phản ứng các báo đăng “Bài văn của trẻ...” thế nào, thấy ngay cả đường link bài trên báo Đời Sống Pháp Luật cũng đã được xoá. (Có vẻ với phản xạ nghề nghiệp Báo ĐSPL đã nêu cao tinh thần "cảnh giác", sớm âm thầm chọn kế "Tẩu vi thượng sách” trước khi Bộ Thông tin truyền thông "ra đòn" "Đập cỏ cho rắn sợ" ?) Thấy Trí Thức trẻ gặp “chuyện lớn”, Báo Đất Việt không còn giữ được sự “tự tại” nữa. Tuy nhiên, có lẽ thấy kiểu "Cao phi viễn tẩu" như Báo Đời Sống Pháp Luật không "đáng mặt anh  hùng" nên BáoĐất Việt mới dùng tương kế "Kim thiền thoát xác" rất ngoạn mục để đối phó: Vẫn giữ nguyên tít "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa" của Báo như cũ, nhưng nội dung thì thay bằng bài  "Sự ngụy tạo ác ý trong "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa"tạm gọi là "của" Tuấn Công thư phòng rồi đưa vào mục “Giáo dục” thay vì mục “Góc nhìn văn hóa” trước đây.
Chúng tôi viết "tạm gọi" vì trong khi diễn màn "thoát xác", không hiểu Báo Đất Việt nghĩ thế nào mà lại chọn cách "hoàn hồn" tối kỵ: nửa Đất Việt, nửa Tuấn Công thư phòng. Nghĩa là Báo Đất Việt lấy bài "Sự ngụy tạo ác ý trong "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa" (kể cả tên bài) của Tuấn Công thư phòng, đem về sửa chữa, thêm bớt câu chữ theo ý của mình, tuồn vào vị trí có tít bài cũ "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa" từng bị chúng tôi lên án, ký tên "Hải Lý" rồi mở ngoặc: “theo Blog Tuấn Công thư phòng”. Thế là một bài báo có tới hai tít, theo kiểu “Hồn Trương Ba, Trương Bốn, da Hàng Thịt, Hàng Cá” (?!!)
Trong bài viết của Tuấn Công thư phòng, chúng tôi chỉ đích danh và không đồng tình với cách làm của báo Đời sống pháp luật và của chính Báo Đất Việt, tại sao Báo Đất Việt tự ý “biên tập” lại, bỏ những đoạn ấy đi, chĩa mũi dùi vào bạn đọc rồi mở ngoặc là “theo Tuấn Công thư phòng” ? Chúng tôi có viết như vậy đâu mà “theo” ? Ví dụ, Tuấn Công thư phòng viết: “Điều đáng buồn là nhiều trang báo được xem là “chính thống”, “lề phải” có tên tuổi cũng nhảy vào cuộc cùng “câu like”, vô tình nối giáo cho giặc. Mà xem ra trình độ của kẻ “nối giáo cho giặc” này cũng chẳng hơn kẻ làm ra văn bản ngụy tạo kia là bao. (“Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ” là một câu tục ngữ lại bị người viết bình luận xếp vào thành ngữ; “Đi hỏi già...” lại viết thành “Đi hỏi nhà...” rất vô nghĩa. Một bài viết như vậy mà cũng thi nhau đăng tải được sao ?)” Thế nhưng nội dung sửa chữa trên BáoĐất Việt lại theo hướng đổ lỗi hoàn toàn cho bạn đọc. Vì bạn đọc thích "mua vui" nên mới có sản phẩm ngụy tạo như vậy. Xin trích nguyên văn: “Điều đáng buồn hơn nữa là bài văn khi xuất hiện được rất nhiều người chia sẻ và bình luận như một trò mua vui, giải trí. Nếu không có sự quan tâm của đông đảo mọi người thì thử hỏi có kẻ rỗi hơi nào lại dày công dàn dựng nên những sản phẩm vô văn hóa như thế?”
Đây là những lời bình luận mượn danh Tuấn Công thư phòng rất dị thường của Báo Đất Việt. Vì chính Báo Đất Việt là một trong những “thủ phạm” sớm tham gia vụ việc, tuyên truyền cho“sản phẩm vô văn hóa”, ấy sao bây giờ lại “la làng” lên và đổ hết lỗi cho bạn đọc ? Báo đăng bài phục vụ bạn đọc, khi bạn đọc quan tâm chia sẻ vấn đề mình nêu ra lại phê phán, nào là “đáng buồn” vì “được rất nhiều người chia sẻ và bình luận như một trò mua vui, giải trí”, rồi cho rằng nếu bạn đọc không quan tâm thì sẽ không có kẻ nào “rỗi hơi” nguỵ tạo ra “những sản phẩm vô văn hóa như thế” (!) Chẳng lẽ bản Báo quên rằng“sự quan tâm đông đảo của mọi người” trong đó có một “người” rất nhiệt tình là Báo Đất Việt ? (chúng tôi đã kịp ghi lại những lời bình luận về "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa" đó trên chính Báo Đất Việt và in kèm bài viết, nhưng đã bị báo này bỏ đi khi đăng lại bài của chúng tôi).
Thời buổi Internet tựa lưới trời lồng lộng ngang dọc hoàn cầu thì sự lừa dối, bưng bít thông tin chạy đâu cho thoát ? Ví dụ ngay sau khi TCTP đăng bài đã có rất nhiều trang đăng lại. Riêng Lều Báo.vn đăng lại bài viết (có lời xin phép hẳn hoi nhé) và lập tức cộp “dấu chứng nhận": “Lều Báo.vn” đỏ chót cho hai Báo Đời sống pháp luật và Báo Đất Việt kèm bản chụp bài đăng "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa".
Hình ảnh trên trang Lều Báo.vn

Blog không phải là một tờ báo đúng nghĩa với những Giấy phép hoạt động, ban bệ quản lý... Tuy nhiên Blog cũng là một phương tiện thông tin đại chúng. Chúng tôi có tên tuổi địa chỉ đàng hoàng và chịu trách nhiệm trước pháp luật cùng bạn đọc về những phát ngôn của mình. Chúng tôi có quyền tác giả đối với những bài viết đã được công bố với sự chia sẻ và xác nhận của bạn đọc. Bởi vậy, Báo Đất Việt chớ nghĩ rằng bài đăng trên Blog thì không có giá trị bản quyền rồi muốn cắt xén, xào xáo, sử dụng lại thế nào tùy ý. (Bài viết trên Báo Đất Việt ký tên Hải Lý và mở ngoặc “theo Blog Tuấn Công thư phòng” còn lược bỏ, sửa chữa, thêm bớt nhiều đoạn, nhiều câu trong bài viết của chúng tôi  một cách thô bạo. Xin không nêu ra ở đây vì bài đã dài. Bạn đọc có thể so sánh cụ thể ở phần phụ lục cuối bài viết này).
Dân gian có câu: “Con sâu bỏ rầu nồi canh, Một người làm đĩ xấu danh đàn bà”. Chúng tôi không vơ đũa cả nắm mà nghĩ rằng: mọi sai sót đều xuất phát từ những lý do, nguyên nhân và trách nhiệm rất cụ thể. Dân gian cũng nói “Có gan ăn muống, có gan lội hồ”. Ai làm sai, người ấy phải chịu trách nhiệm. Ít ra thấy bài không phù hợp thì cũng nên chọn “thượng sách” như báo Đời Sống Pháp Luật. Sao báo Đất Việt lại lựa chọn màn ảo thuật "Ve vàng lột xác", lập lờ đánh lận con đen, dối trên, lừa độc giả như thế ? (Riêng Việt Báo.vn- Trung tâm báo chí và hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) thuộc Bộ thông tin và truyền thông đến thời điểm 15 giờ 20 phút ngày 18/8/2014 chúng tôi vẫn thấy “bình chân như vại” với "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa". (Chắc không phải có ý chờ chứng nhận “Lều Báo.vn” ?) Có vẻ tiếng động từ “đám cỏ” Trí Thức Trẻ đã khiến Đời Sống Pháp Luật và Báo Đất Việt hoảng hốt và đã quá lo xa, vì “Trạng chết Chúa cũng băng hà” !
Ảnh chụp màn hình lúc 3 giờ 20 phút ngày 18/8/2014
Qua hai vụ: "Gái miền Tây và 3 chữ N nổi danh thiên hạ" và "Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa", chúng tôi lấy làm ngạc nhiên với quy trình sản xuất bài vở của các báo đăng những bài này. Trong khi “dân chơi” Blog (đến cái danh báo “Lá Cải” cũng chưa bao giờ được vinh dự gọi tên) luôn cân nhắc, rất tôn trọng và hiểu nguyên tắc khi đăng lại bài của nhau, dẫu thay đổi cái tít bài hay lược bớt nội dung cũng phải xin phép hoặc chú thích để bạn đọc hiểu rõ, vậy tại sao Báo Đất Việt lại không nắm được nguyên tắc tối thiểu đó ? Giả sử Tuấn Công thư phòng copy bài viết bản quyền của Báo Đất Việt về rồi sửa chữa, thêm bớt theo quan điểm của mình, ký tên Tuấn Công rồi lại mở ngoặc “theo Báo Đất Việt” liệu có được không ? Nếu không tiếp cận được bài gốc mà chỉ đọc bài “của” Tuấn Công thư phòng trên Báo Đất Việt bạn đọc sẽ nghĩ gì về cách nhìn nhận thiếu công bằng của tác giả ?
Với tư các là tác giả (dưới bút danh Huỳnh Cống Tuân và Đoài Thôn Nhân) người giữ bản quyền bài viết  Sự nguỵ tạo ác ý trong “Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa”.. và trách nhiệm đối với độc giả, Tuấn Công thư phòng và bạn đọc chờ một lời giải thích từ Báo Đất Việt.

                                                          HTC 18/8/2014

                                             
Sau đây là màn “Kim thiền thoát xác” của Báo Đất Việt:
“Bài văn khiến cho giáo viên và phụ huynh ngã ngửa
(Giáo dục) - Sự ngụy tạo ác ý trong “Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa”
Mấy ngày qua, nhiều trang mạng xã hội và báo điện tử đã đăng tải và chia sẻ “Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa” khiến cộng đồng mạng xôn xao bàn tán.
Khi được một thành viên chia sẻ trên diễn đàn xã hội, bài văn đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm, bình luận của cư dân mạng, nhìn chung là cảm giác ái ngại, “sốc” và … “ngã ngửa”.
Nguyên văn bài văn như sau:
Đề: Các em hãy viết một lá thư gửi cho người thân.
Bài làm:
“Bố kính mến!
Đầu thư con chúc bố sức khỏe, con yêu bố. Thưa bố, từ ngày bố đi công tác ngoài đảo, con rất nhớ bố, nhưng một thời gian con đã quên và không còn nhớ bố nữa, nên bố yên tâm công tác. Ở nhà không có bố, con và mẹ rất vui, con học hành có tiến bộ hơn trước, bố đừng lo cho con.
Con và mẹ ở nhà có hàng xóm yêu thương và giúp đỡ rất nhiều nhất là chú Thanh công an Phường, ngày nào chú cũng đến ăn cơm cùng con và mẹ, chở con đi chơi cùng me, chú mua rất nhiều quà cho con, còn tổ chức sinh nhật cho con nữa, thỉnh thoảng chú còn khen con đẹp giống mẹ.
Hằng đêm chú còn kể chuyện cho con nghe trước khi con đi ngủ, sáng sớm chú sang chở con đi học, trưa chú đón con về...Con rất yêu chú Thanh, mẹ cũng rất yêu chú Thanh nên bố đừng lo cho con và mẹ nữa, nên bố hãy yên tâm công tác, khi nào xong nhiệm vụ trở về gia đình mình lại sum họp bố nhé. Chúc bố khỏe.
Quy Nhơn,28/07/2014
Người viết thư
Lê Yến Vy”
Bài văn có giọng điệu hồn nhiên, thật thà của con trẻ nhưng lại đặt ra nhiều câu hỏi cho những người lớn xung quanh em. Tuy nhiên, khi xem xét kĩ bài văn, ta có thể nhận ra sự ngụy tạo vụng về trong bức thư này.
Thứ nhất, xét về hình thức của giấy kiểm tra, ở các trường tiểu học ngày nay, đặc biệt là ở các thành phố có điều kiện (chi tiết “chú Thanh công an phường”), học sinh làm bài kiểm tra trên mẫu giấy in sẵn chuyên dùng, có chỗ ghi tên trường, lớp, họ tên và khung khi điểm, lời phê của giáo viên.
Còn theo hình ảnh của bài văn ngụy tạo, tờ giấy kiểm tra lại là một tờ giấy ô li được xé ra từ vở, học trò tự kẻ khung, đề họ tên, lời phê. Giả sử trường này không dùng mẫu giấy kiểm tra in sẵn thì thông thường các em cũng được hướng dẫn ghi họ tên, trường lớp, môn kiểm tra ở trên, ở dưới kẻ khung ghi “Điểm” và “Lời phê của thầy, cô giáo” chứ không phải ghi họ tên một bên, một bên là ô ghi “Lời phê” cộc lốc như trong bài văn ngụy tạo kia.
Thứ hai, xét về chữ viết, nét chữ trong bài làm có thể đúng là nét chữ của học sinh tiểu học. Điều này không khó vì kẻ ngụy tạo có thể nhờ một đứa trẻ chép lại. Tuy nhiên phần nhận xét của giáo viên trong ô “Lời phê” thì quả là vụng về.
Luyện viết chữ đẹp là một trong những môn học quan trọng hàng đầu ở bậc Tiểu học, thế nên các cô giáo đều phải viết chữ đẹp, nắn nót để làm mẫu cho học sinh. Còn xét chữ “Xin ý kiến phụ huynh” trong bài văn ngụy tạo kia, một cô giáo Tiểu học không thể viết ẩu, viết xấu và càng không thể nhận xét bài văn một cách cộc lốc, không rõ ràng như thế.
Thứ ba, xét về ngôn ngữ trong bài văn thì càng có nhiều điểm đáng ngờ. Một học sinh Tiểu học không thể viết mỗi một chữ “Đề” mà phải ghi đầy đủ là “Đề bài”. Điều này thì khi chép đề lên bảng cô giáo cũng phải ghi rõ ràng. Hơn nữa trong cách ra đề văn, giáo viên thường chỉ viết “Em hãy…” chứ không dùng từ “Các em”.
Từ này chỉ dùng trong khi nói chứ không viết thành đề bài cho học sinh. Còn về ngôn ngữ diễn đạt của cô bé học sinh trong bài văn, bề ngoài có vẻ ngây ngô, thật thà khi kể tất cả những chuyện không đáng kể ở nhà cho bố nhưng thực chất, nội dung của bài lại được dàn dựng một cách có chủ đích.
Bài làm luôn nhấn mạnh đến “nỗi đau” mất mát tình cảm bố con, nỗi “trớ trêu” của người lính đảo bị vợ phản bội: “ở nhà không có bố, con và mẹ rất vui (…) ngày nào chú cũng đến ăn cơm cùng con và mẹ, chở con đi chơi cùng mẹ (…) hàng đêm chú còn kể chuyện cho con nghe trước khi con đi ngủ (…) con rất yêu chú Thanh, mẹ cũng rất yêu chú Thanh nên bố đừng lo cho con và mẹ nữa…”
Nếu xét về mặt logic, một học sinh Tiểu học đã học đến cách viết một bức thư thì rõ ràng đã có thể nhận thức được về người bố đi lính ngoài đảo xa, không thể nào thờ ơ với bố đến mức như thế mà chấp nhận một “người hàng xóm” ăn ngủ ở nhà mình. Hơn nữa thực tế không thể có một “chú Thanh” nào dám công khai đi lại với vợ một người lính đảo giữa bàn dân thiên hạ, đặc biệt chú Thanh ấy lại còn là công an phường.
Những căn cứ trên đã quá rõ ràng để có thể nhận thấy sự ngụy tạo vụng về đầy ác ý của bài văn. Đây không phải là trường hợp duy nhất bởi thời gian gần đây xuất hiện không ít những bài văn của “học sinh” gây “sốc” được đăng tải và chia sẻ trên mạng xã hội nhằm mục đích mua vui, “câu like”.
Trong khi báo chí công bố những bức thư thấm đẫm tình cảm của vợ con người lính đảo, khích lệ người lính chắc tay súng vì biển đảo quê hương thì lại có những kẻ thiếu văn hóa, thừa thời gian ngụy tạo ra những bài văn giễu cợt sự hy sinh của người lính, bịa đặt chuyện phản bội ở hậu phương. Càng không thể chấp nhận khi sự giễu nhại ấy lại được đặt dưới trang viết hồn nhiên, vô tư của học sinh Tiểu học. 
Điều đáng buồn hơn nữa là bài văn khi xuất hiện được rất nhiều người chia sẻ và bình luận như một trò mua vui, giải trí. Nếu không có sự quan tâm của đông đảo mọi người thì thử hỏi có kẻ rỗi hơi nào lại dày công dàn dựng nên những sản phẩm vô văn hóa như thế?  (HTC tô đỏ)
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam còn để lại vô vàn những hình ảnh, câu chuyện đẫm nước mắt, đầy đau thương và cảm động về những người vợ, người mẹ có chồng đi lính xa nhà. Câu chuyện đau lòng của “người thiếu phụ Nam Xương” vẫn còn đó, liệu có cần nhẫn tâm dùng chiêu trò mượn lời con trẻ để bịa đặt, mua vui, tạo nên một bi kịch của “vợ chàng Trương” giữa thế kỉ 21?
 Hải Lý (Theo blog Tuấn Công thư phòng)”

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Nguyễn Cừ đã “Giải Nghĩa Tục Ngữ Việt Nam” như thế nào ? (phần III)


           Hoàng Tuấn Công

Ngoài “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam”, Nguyễn Cừ còn là tác giả của “Tuyển tập tục ngữ-ca dao Việt Nam” (NXB Văn học); “Tục ngữ Việt Nam” (NXB Văn học) và là đồng tác giả của “Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam” (trọn bộ 7 tập-NX Giáo Dục). Như vậy, Nguyễn Cừ là người có nhiều kinh nghiệm và lợi thế trong việc lựa chọn các đơn vị tục ngữ Việt Nam để đưa vào “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam”.
Tuy nhiên, xem “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” chúng tôi thấy Nguyễn Cừ giống như người “Vào rừng không biết lối ra...” chẳng hề có biểu hiện gì của một người thợ sơn tràng dày dạn kinh nghiệm. Bởi tác giả chép sai rất nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, phá hỏng cả kết cấu, gieo vần, từ ngữ đăng đối của dân gian. Mặt khác, Nguyễn Cừ cũng giải thích sai luôn nội dung câu thành ngữ, tục ngữ đó. Sau đây là một số ví dụ:

Thứ nhất thì chết mất cha, thứ nhì gánh rã, thứ ba ngược đò.
Chính xác là “gánh vã” chứ không phải “gánh rã”. Gánh vã tức là gánh bộ, vất vả nặng nhọc. (Nên có câu “Buôn thuyền (hoặc buôn vai) gánh vã, chẳng đã hà tiện.”)
Sớm trực, trưa chầu.
Lỗi (không biết lỗi văn bản hay lỗi chính tả ?): “chực” (trong chầu chực) chứ không phải “trực” (trong túc trực). Ở đây chơi chữ “chầu” và “chực”
Đồngbạc đâm toạc tờ giấy.
Chính xác là: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Hình cái nén bạc nhọn hai đầu mới gợi nên sức mạnh của thế lực đồng tiền có thể “đâm toạc tờ giấy” chứ ? Mà phải là dạng “Vàng thoi, bạc nén” mới có giá trị.
Ném chuột còn ghê cùi bát.
Lỗi. “Cũi bát” chứ không phải “cùi bát”.“Cũi bát” tức cái giá, cái tủ làm bằng tre, gỗ đựng bát đĩa.
Hơi có mã đã khoe mình đẹp.
Sai từ ngữ: “có mẽ” chứ không phải “có mã”.Vần “ẽ” gieo với vần “oe” mới đúng. Ta cũng hay nói “khoe mẽ” chứ không nói “khoe mã.”
Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường.
Tác giả viết sai dấu: “ngả đâu là giường” (ngả lưng nằm ngủ một cách tạm bợ); còn “ngã đâu là giường” là say xỉn mất rồi !
Tránh voi không xấu mặt nào.
“Chẳng xấu” chứ không phải “không xấu”. Hiệu quả của hai từ “chẳng” và “không”khác hẳn nhau, không thể tùy tiện dùng mà được.
Ba quan tha hồ mở bát:( ....) đặt tiền chọn mặt xấpngửa.
Sai chính tả. “Sấp ngửa” chứ không phải “xấp ngửa.”
Thương thì thương cho chót, vót thì vót cho nhọn.
Lỗi chính tả: “thương cho trót” chứ không phải “cho chót”.
Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
“Cũng đánh” chứ không phải là “phải đánh”.Đánh giặc vốn không phải “nghiệp” của đàn bà. Thế mà “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, ấy mới là đề cao tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của giới “cân quắc anh hùng” chứ, thưa ông Nguyễn Cừ ?
 Đắng cay cũng thể ruột già, ngọt ngào cho lắm vẫn là người dưng. Coi trọng tình nghĩa anh em họ hàng.
Chẳng có “ruột già” ruột non gì ở đây đâu, thưa ông Nguyễn Cừ. Nó là từ láy “ruột rà” đó. (Ý nói có quan hệ anh em, máu mủ, dòng tộc huyết thống nói chung). Vế sau: “cũng là người dưng” chứ không phải “vẫn là người dưng”.
Trẻ được manh áo, già được bát canh.
Viết như Nguyễn Cừ là phá hỏng hoàn toàn hiệu quả gieo vần trong phương pháp sáng tác của dân gian. Hình thức đúng của câu tục ngữ này là: “Già mong mát canh, trẻ mong manh áo mới.” hoặc “Già được bát canh, trẻ được manh áo.
“Mấy ai biết lúa ven, mấy ai biết con hư: Lúa nhà mình, con nhà mình làm sao mà xấu mà hư được, phê phán tâm lý luôn cho mình là nhất, quá thương con mà không biết con hư.”
Lúa “von” chứ không phải lúa “ven”. “Von” gieo vần với “con”. Hơn nữa “lúa von” là thuật ngữ nông học chỉ một loại bệnh do loài nấm Fusarium moniliforme gây nên bởi nguyên nhân truyền nhiễm hoặc lây nhiễm. Cây lúa (có thể bắt đầu từ thời kỳ mạ) bị bệnh này sẽ mọc cao hơn các cây bình thường, lá lúa nhỏ, dài, ngả màu vàng nên gọi là “von”, (“von” trong từ chon von). Trước đây công tác giống kém, đa số giống không thuần, độ đồng đều trên ruộng không cao. Ruộng lúa có khi chia làm mấy tầng cao thấp, nên khó phát hiện sớm lúa von. Nông dân chăm sóc mãi nhưng chỉ đến thời kỳ trổ bông, kết hạt, thấy lúa không trổ được hoặc có trổ nhưng hạt bị lép, mới biết là lúa bị “von”. Cũng như đứa trẻ mới sinh ra rất ngoan ngoãn, cha mẹ nuôi nấng trong bao niềm hy vọng, nhưng khi lớn lên nó bỗng sinh hư hỏng. (Cha mẹ sinh con trời sinh tính -tục ngữ). Lý do dân gian so sánh “lúa von” với “con hư” là như vậy. Không phải “Lúa nhà mình, con nhà mình làm sao mà xấu mà hư được, phê phán tâm lý luôn cho mình là nhất, quá thương con mà không biết con hư” như Nguyễn Cừ giải thích.
Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân: Kinh nghiệm mua gia súc, chọn con trâu tốt là phải xem sừng, còn mua chó phải xem chân.
Sừng cũng là một tiêu chuẩn quan trọng khi xem tướng trâu (“Sừng mau cánh ná hiên ngang”-Các khía trên sừng dày, hai sừng phát triển đều, cong cong như cánh ná). Tuy nhiên, câu tục ngữ đang xét phải là “Mua trâu xem vó” chứ không phải “mua trâu xem sừng”, vì ở đây dân gian gieo vần “ó”: “Mua trâu xem vó, mua chó xem chân”. Mặt khác tục ngữ đang nói đến chân của hai loài vật nuôi. Với trâu, phải “xem vó” vì:“Bốn chân một vó ai bì/Móng tròn bát úp khi đi vững vàng” (Tục ngữ có hình thức ca dao) Trâu dù kéo cày hay kéo xe đều cần có bộ móng tròn đầy như bát úp làm việc mới khỏe. Nếu móng cong queo, hở, tõe hoặc móng tréo lên nhau sẽ không tốt khi lội ruộng, không vững khi bám mặt đất. Đối với chó, “xem chân” vì: “Tứ túc huyền đề” (bốn chân đều có móng đeo, kinh nghiệm dân gian là con chó khôn, quý). Như vậy, chẳng những Nguyễn Cừ chép sai về mặt hình thức câu tục ngữ mà cách giải thích “Kinh nghiệm mua gia súc, chọn con trâu tốt là phải xem sừng, còn mua chó phải xem chân” cũng rất chung chung, hời hợt, chẳng “đáng mặt” “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” tí nào.
Bìm bịp lại muốn leo nhà gạch: Không biết thân phận lại muốn chơi chèovới người cao hơn.
Câu này Nguyễn Cừ phạm hai lỗi: 1.Lỗi văn bản, từ ngữ: “Bìm bìm” (loài thực vật thân leo) chứ không phải “bìm bịp” (động vật lông vũ). Bởi vậy, hình thức đúng của câu thành ngữ là: “Bìm bìm đâu dám leo nhà gạch”. 2.Lỗi chính tả: “trèo” (trong leo trèo) chứ không phải “chèo” (trong chèo lái).
Nói thêm:Cây bìm bìm thường mọc nơi hoang dại, phát triển rất mạnh. Vì bìm bìm vô dụng nên hay bị người ta tiêu diệt, phá bỏ để tránh ảnh hưởng đến cây trồng khác. Thậm chí, chỉ ở nơi bờ dậu đổ nát, hoang tàn, không ai quan tâm, bìm bìm mới có cơ hội leo lên và tồn tại (Dậu đổ bìm leo-tục ngữ). Bởi vậy, nhà gạch (ngày xưa quý, hiếm) đâu có chỗ dành cho bìm bìm ? (Gạch ngày xưa nung thủ công, tường xây vôi cát, nếu để loài cây phát triển mạnh, um tùm nhiều lớp như bìm bìm leo lên sẽ làm ẩm ướt, hỏng, thối gạch. Do đó, không bao giờ người ta để bìm bìm leo nhà gạch). Có dị bản “Bìm bìm đâu dám leo nhà gạch”, ý là tự biết thân phận mình, không dám đua đòi tới chốn cao sang. Dị bản này “Từ điển tục ngữ Việt” của Tiến sĩ Ngữ học Nguyễn Đức Dương giải thích nghĩa đen: “Bìm bìm là thứ dây leo rất e ngại khi leo vào các tòa nhà gạch (vì cái nóng kinh khủng tỏa ra từ nó có thể thiêu cháy dễ dàng cả dây bìm bìm tươi)”. Điều này vừa phi thực tế vừa phi logic. Vì bìm bìm phát triển cực mạnh, chẳng ngán gì nắng nóng. Nên ngày nay nó thường được trồng để chống nóng cho các mái lán, chuồng trại chăn nuôi gia súc lợp bằng Fibro xi-măng. Bìm bìm chẳng những không hề “e ngại” thứ vật liệu hấp nhiệt nóng bỏng này mà còn kết thành tấm thảm xanh tươi, rung rinh hoa tím...Và nếu bìm bìm “e ngại” không thích nhà gạch, phải nói “Bìm bìm không thèm leo nhà gạch”mới đúng nghĩa đen.
Gà con ấp mẹ:Đặc tính của gà nuôi con bao giờ cũng ấp cũng như con người yêu con lúc nào cũng bế cũng bồng trên tay.
Câu này phải sửa lại thành “Gà con nấpmẹ”, hoặc “Gà mẹ ấp con” chứ không thể là “Gà con ấp mẹ”. Bởi gà con bé tí làm sao “ấp” được gà mẹ to xù ?
Trời nắng chóng mưa, trời mưa chóng tối:Kinh nghiệm dự báo thời gian có căn cứ khoa học, trời nắng nhiều thì hơi nước bốc lên nhiều sẽ nhanh có mưa. Trời mưa, mây che mặt trời, lúc nào trời cũng như tối vậy.
Nguyễn Cừ giải nghĩa chỉ đúng nửa sau câu tục ngữ. Vế trước bị tác giả ghi sai: “Trời nắng chóng trưa” chứ không phải “Trời nắng chóng mưa”. Trời nắng, ánh mặt trời chói chang khiến người ta có cảm giác rất nhanh đến “trưa”. Thế nên, “chóng trưa” mới đối với “chóng tối” là vậy. Từ ghi sai, Nguyễn Cừ giải thích sai luôn. Dù dân gian tổng kết quy luật “Nắng lắm mưa nhiều”,nhưng không phải“trời nắng nhiều thì hơi nước bốc lên nhiều sẽ nhanh có mưa” như Nguyễn Cừ suy diễn. Vì có khi nắng hạn kéo dài hàng tháng trời mà chẳng có nổi hạt mưa.
Cua nóng nước đã đỏ gọng: Cua biển bỏ vào nồi luộc, nước chưa sôi đôi gọng đã đỏ, ám chỉ người dễ mất bình tĩnh, dễ nóng tính chưa biết đầu cuối câu chuyện đã đùng đùng nóng giận.
“Chưa nóng nước đã đỏ gọng”, chứ không phải là “Cua nóng nước đã đỏ gọng”. Về phương diện khoa học: Thân cua có màu đỏ tôm trộn lẫn với các sắc tố khác nên bình thường không thể hiện rõ sắc đỏ tươi vốn có của nó. Nhưng sau khi luộc chín, các sắc tố khác bị phá huỷ và phân giải dưới nhiệt độ cao thì màu đỏ sẽ hiện ra. Do vậy, tất cả cua nấu chín đều sẽ biến thành màu đỏ. Và cua chỉ có màu đỏ tôm trong môi trường nước nóng. Vậy mà “chưa nóng nước đã đỏ gọng” rồi ! Thành ngữ ám chỉ kẻ nhát gan, giống như con cua trong nồi, nước chưa nóng, chưa sôi đã sợ, gọng đỏ lên tựa như thể đã bị người ta luộc chín. Nếu nói như Nguyễn Cừ: “Cua nóng nước đã đỏ gọng” là điều hiển nhiên, có gì lạ ? Và nghĩa bóng của nó không phải “ám chỉ người dễ mất bình tĩnh, dễ nóng tính chưa biết đầu cuối câu chuyện đã đùng đùng nóng giận” như Nguyễn Cừ võ đoán.
Một tằm cũng phải hái dâu, một con trâu cũng phải thả đúng đồng: Một vợ chồng có một con cũng phải sắm sửa, tốn kém như sinh nở nhiều con vậy. Câu này xuất phát từ thực tế trước đây nghèo khổ nên sau khi đẻ đứa đầu thì toàn bộ đồ lót, đồ trẻ đều giữ lại cho đứa sau dùng, đỡ tốn kém rất nhiều.
Sai toàn phần ! “Một con trâu cũng phải đứng đồng” chứ không phải “một con trâu cũng phải thả đúng đồng.” “Đứng đồng” nghĩa là đi chăn trâu, lẽo đẽo đi theo chăn dắt nó. Còn “thả đúng đồng” là thả trâu đúng ở cánh đồng cần thả chứ đâu có chăn dắt ? Về nghĩa bóng, cách giải thích của Nguyễn Cừ cũng rất khó thuyết phục. Bởi tục ngữ đang nói chuyện số lượng cùng một lúc, chứ không phải số lượng trước, sau kế tiếp. Hơn nữa, đâu phải đẻ nhiều con thì sẽ tận dụng được đồ dùng (quần áo) của đứa trước ? Ở đây, ý dân gian: nuôi một con tằm cũng mất công hái dâu để nuôi, chăn một con trâu cũng mất công một người đi theo chăn dắt. Bởi vậy, nên đầu tư chăn nuôi với số lượng lớn cho đỡ phí công lao động và thu được lãi lớn. (Ngày nay gọi là sản xuất hàng hóa, hoặc sản xuất lớn.)
Mua áo thì rẻ, mua rẻ thì đắt: Mua bán lúc cần thiết thì bao giờ cũng bị đắt hơn.
Vì viết nhầm “mua giẻ” thành “mua rẻ”nên câu của Nguyễn Cừ rất vô nghĩa. Hình thức đúng là: “Mua áo thì rẻ, mua giẻ thì đắt”. Nghĩa là cũng với giá trị đồng tiền đó, nhưng được xem là rẻ hay đắt còn phụ thuộc vào chất lượng mặt hàng mình mua.
Được cãi cầm, thua cãi cố: Được cuộc, cãi vừa phải cho xong mang về, còn thua thì cãi đến cùng, sai cũng cố cãi.
Tác hại của “chữ tác thành chữ tộ” là vậy đó. Hình thức đúng của câu tục ngữ là: “Được cãi cùng, thua cãi cố”. Đó là tâm lý chung trong các cuộc tranh luận. Bên nắm được lý lẽ, phần thắng thì muốn làm cho tới nơi; phía đuối lý, ở vào thế thua, biết mình sai, mình thua nhưng vẫn bảo thủ, cố cãi cho bằng được. Nếu “giải thích” như Nguyễn Cừ: “Được cuộc, cãi vừa phải cho xong mang về”, vậy chỉ còn kẻ thua đứng lại một mình  thì còn cãi với ai nữa ?
Rượu treo, cháo thí, nghe hát nhờ: Đói nghèo, sống toàn phải dựa vào người khác.
Sai chính tả (hay kiến thức từ ngữ ?): Chỉ có “rượu cheo” mới có thể “uống theo” được chứ “rượu treo” lủng lẳng thì chỉ có nước ngửa cổ nhìn mà thèm ! Rượu “cheo”  là rượu nộp cho làng về việc cưới xin, kẻ được dự phần uống không mất tiền; “cháo thí” là cháo bố thí, “nghe hát nhờ” không mất vé (Cũng ăn uống, chơi bời nhưng là lợi dụng để không phải bỏ ra đồng nào)
Thua trời một vạn, không bằng thua bạn một ly: Tâm lý của con người luôn cố gắng không thua kém bạn bè.
Sai văn bản. “Thua thầy” chứ không phải “thua trời”. Ai dám đem người ra so sánh với trời ? Thầy giỏi hơn trò, nên trò thua thầy đến mấy cũng là chuyện bình thường. Nhưng bạn bè cùng trang lứa, cùng đi học một thầy mà “thua bạn, kém bè”, dẫu một chút cũng là điều nên lấy làm xấu hổ mà phấn đấu.
Muốn tu chùa ngói, bụt vàng, chùa tranh, chùa đất ở làng thiếu chi.
Sai văn bản. Vế đầu “chùa ngói, bụt vàng” thì vế sau phải là “chùa tranh, bụt đất” chứ ? (Bụt vàng đối với Bụt đất) Ngày xưa thường có hai loại chùa:“Chùa ngói, Bụt vàng” là chùa sang trọng, kết cấu gỗ, lợp ngói, tượng Phật bằng vàng ròng (hiếm) hoặc điêu khắc gỗ sơn son thếp vàng. Tu ở “chùa ngói, Bụt vàng” dĩ nhiên có nhiều Phật tử, thiện nam tín nữ, được cúng dàng nhiều vật phẩm. Loại chùa nghèo, có khi tranh tre, mái lá, tượng Phật nặn bằng đất luyện kỹ rồi sơn son thếp vàng. Loại tượng này khá bền đẹp. (Thế nên có câu “Để là hòn đất, cất nên ông Bụt” hoặc “Chưa nặn Bụt đã nặn bệ”- Tượng nặn là tượng bằng đất) Có lẽ Nguyễn Cừ không hiểu “Bụt đất” là gì nên mới chữa thành “chùa đất” chăng ?
Chó chê khỉ lắm lông, khỉ chê chó ăn rông ăn dài:
Không biết Nguyễn Cừ lấy đâu ra dị bản rất “kỳ dị” này ? Chỉ có câu “Chó chê mèo lắm lông, chó cũng cùng tông với mèo.” (“Ghét nhau như chó với mèo.”-Hai con cùng ở một nhà, chủ cho chế độ ăn uống khác nhau. Mèo được ăn trong đĩa bát, thức ăn ngon. Chó ăn thức ăn đổ dưới đất, đồ ăn chỉ có lượng, ít ngon, nên chó mèo hay gầm gừ, tranh giành thức ăn của nhau) Ý nói: Không ưa nhau thì chê bai nhau, chứ thực chất có hơn gì nhau, cũng giống nhau (cùng “tông”) cả thôi. Còn con khỉ với con chó, một con ở rừng, một con ở nhà liên quan gì mà chê bai nhau ? Cùng “lắm lông” như nhau mà lại chê nhau mới đáng nói, chứ một đằng “lắm lông”, một đằng “ăn rông...”, tuy là vần vè đấy nhưng có gì đặc biệt ?  Hơn nữa, “ăn rông ăn dài” là gì, thưa tác giả “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” ? Phải chăng ý tác giả là “ăn rông ăn rài” ?
Cua thâm càng, người thâm môi.
Nguyễn Cừ lại phá hỏng vần điệu. “Tục ngữ Việt Nam”của Nhóm Chu Xuân Diên đưa ra một số dị bản đúng: “Cua thâm còng, đàn ông thâm môi”; “Cua thâm càng, nàng thâm môi”; “Trai bạc mắt, gái thâm môi, những người lông bụng chớ chơi bạn cùng”
Lá lành đùm lá rách, lá rách bọc lá lành: Tình thương yêu đoàn kết cả trong gia đình và xã hội, đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Vế sau: “Lá rách bọc lá lành” (hay “lá rách ít bọc lá rách nhiều” như nhiều người thường nói) chẳng qua là kiểu vẽ rắn thêm chân, tác giả làm sách không nên bắt chước hay thu thập. Nhân đây cũng nên nói thêm, Nhà nghiên cứu không nên cho rằng “Tình thương yêu đoàn kết cả trong gia đình và xã hội, đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.” Vậy, các dân tộc, đất nước khác họ không có chắc ? Thông thường ở đâu có “khẩu hiệu”, ở đó có vấn đề: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” rồi “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”... Đó là những lời kêu gọi, nhắc nhở hãy biết thương yêu nhau như anh em ruột thịt chứ không phải phản ánh sự thương yêu đùm bọc nhau trong thực tế. Nếu anh em cùng nòi giống, con người đã thực sự đùm bọc, thương yêu nhau rồi, chắc hẳn sẽ không xuất hiện những câu ca dao kêu gọi khẩn thiết như vậy.
Mười hũ vàng trôn không bằng cái trôn con lợn:đề cao ngành nghề chăn nuôi.
“Trôn”ở đâu ra mà lắm vậy thưa ông Nguyễn Cừ ? “Mười hũ vàng chôn” (vàng chôn xuống đất để cất giữ) chứ không phải vàng “trôn”. Tục ngữ cũng không “đề cao ngành nghề chăn nuôi” nói chung mà cụ thể là nghề chăn nuôi lợn nái. Cái “trôn” là cách gọi tránh bộ phận sinh dục con lợn mà vẫn giữ được vần. Lợn nái đẻ ra lợn con giống như của cải sinh sôi vậy (Giàu lợn nái, lãi gà con). Trong khi hũ vàng có quý thật nhưng đem chôn xuống đất sẽ không đẻ thêm được...
Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ thông tin ở bìa 2 của sách “Giải nghĩa tục ngữ Việt”, Nguyễn Cừ tự giới thiệu từng là “Chuyên gia tiếng Việt tại Liên xô”. Có lẽ không ai nghi ngờ việc ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy ở nước bạn. Tuy nhiên, chúng tôi lại trộm nghĩ: khi về Việt Nam, sao Nguyễn Cừ không lựa chọn công việc ngược lại trước đây để tùy đất mà dụng võ, khai thác sở trường, tránh sở đoản ?

Hết phần III (xem Phần I và  Phần II)

                                            HTC/8/2014

Mời các bạn đón đọc “Nguyễn Cừ đã giải nghĩa tục ngữ Việt Nam như thế nào ?”  phần cuối, chủ đề “Tham mà không khảo”



Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt (kỳ II)

II. HỒN PHÁCH VÀ SINH TỬ

Hoàng Tuấn Phổ

Theo quan niệm thông thường, người ta ai cũng có hồn phách, khi chết, phách bị tiêu tan cùng thể xác, chỉ còn hồn không thể mất. “Thác là thể xác, còn là tinh anh” (Tinh anh cũng tức là linh hồn). 
Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống con người và xã hội, vấn đề Hồn phách lại biểu hiện không hề đơn giản. Bởi người Việt Nam từ nghìn xưa chịu ảnh hưởng qua lại của nhiều luồng tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Ấn Độ giáo, Công giáo,...rồi giữa hai cuộc đại chiến thế giới nổi lên một số hiện tượng xã hội: Cao Đài, Hòa Hảo,...
Nho giáo không đề cập vấn đề Hồn phách, nhưng trong thâm tâm các nhà nho mấy ai không tin thuyết “Linh hồn bất tử”. Phật giáo, có lẽ do sinh thời Phật Thích-ca chỉ nói mà không viết, nên sau khi ngài mất, chia ra nhiều tông phái khác nhau. Học thuyết cơ bản của Phật giáo là luân hồi, nhân quả, đều không thừa nhận linh hồn bất tử, phủ nhận cả thượng đế toàn năng. Vì thế, Công giáo kịch liệt đả phá chủ nghĩa vô thần của Phật giáo, khẳng định đức Chúa Trời sáng tạo vũ trụ, sinh ra muôn loài vạn vật. Khi chết, linh hồn con người về nước chúa để hầu chúa, loài vật chỉ có “giác hồn” tiêu tan cùng thể xác. Do đó, tín đồ Công giáo không thờ cúng ông bà, cha mẹ. Lão giáo tôn thờ Lão tử làm giáo chủ, sự thực là lợi dụng uy tín Lão tử xây dựng Đạo giáo để đối trọng với Nho giáo và Phật giáo. Nhưng chính các đạo sĩ lại vận dụng thuyết Âm Dương của Dịch học Nho giáo và thuyết Luân hồi Địa ngục của Phật giáo. (Nhiều người nói Nho học, Nho gia chỉ bàn về Hình nhi hạ, về Nhân sinh quan, không bàn về Hình nhi thượng, về Vũ trụ quan, để cho rằng đạo Nho không phải là tôn giáo). Tính phức tạp của Chu Dịch khiến mỗi người hiểu một cách, học thuyết trở nên rối loạn - Duy vật thô sơ hay Duy tâm thần bí? Các thuyết Dịch bốc, Dịch Chiêm, (bói Dịch) tưởng lầm là khoa học tự nhiên, thực chất là mê tín, dị đoan. Đã không công nhận người ta có linh hồn, Phật giáo lại đưa ra thuyết Địa ngục, vậy cái gì bị đầy xuống địa ngục, nếu không phải là linh hồn của con người?
Người Việt từ lâu đời thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo. Trong lịch sử, thời nhà Lý, thời nhà Trần, có những lúc, những trường hợp thiền sư và đạo sĩ là một. Tương tự như vậy, các thời đại sau, không ít nhà sư kiêm nghề phù thủy, và nhiều pháp sư phù thủy cũng ở chùa tụng kinh gõ mõ, “thờ Phật ăn oản”. Dân gian ngày rằm mùng một lên chùa thắp hương, niệm Phật, lúc gia đình hữu sự lại mời thầy phù thủy bắt ma trừ tà. Tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo ăn sâu vào người Việt biến hóa dần thành phong tục tập quán, người người tin theo, nhà nhà bắt chước. Những tiết lớn trong năm: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Đoan ngọ, Trung nguyên...đều in đậm dấu ấn Phật giáo và Đạo giáo. Cùng một phong tục trồng cây nêu chiều 30 Tết Nguyên đán để báo cho ma quỷ biết đây là đất nhà Phật không được đến quấy nhiễu thì truyền thuyết đã trộn lẫn Phật với Đạo. Tết Đoan ngọ tục nhuộm móng tay, móng chân, đeo bùa lại nặng màu Đạo gia phái Pháp lục. Đặc biệt tết Trung nguyên rằm tháng bảy, kinh sách nhà Phật đều chép là ngày hội Phật giáo.
Đó là ngày hội Vu Lan Bồn (hay Vu Lan Bồn tiết, Vu Lan Bồn trai) tức là tiết Trung nguyên, dân gian gọi nôm na là tiết Rằm tháng bảy. Theo Vu Lan Bồn kinh, một trong 10 đại đệ tử của Phật là Ma-Ha-Mục-Kiền-Liên. Mẹ ông là bà Thanh Đề lúc sống rất độc ác, khi chết phải tội treo ngược dưới Địa ngục. Tương truyền Mục Liên thần thông quảng đại muốn cứu mẹ thoát cảnh tội hình, xin đức Phật ra tay cứu độ. Đức Phật bảo: “Đến ngày rằm tháng bảy, là ngày kết thúc “khóa hạ” của các sư môn (hàng năm các sư đều phải tập trung đến ăn, nghỉ, học tập tại một nơi suốt ba tháng mùa hạ để giữ giới luật sát sinh - mùa hạ là mùa sinh nở của sâu bọ, côn trùng cũng là chúng sinh). Nhà ngươi chuẩn bị đủ trăm thứ đồ ăn uống, cúng dàng 10 vạn tăng chúng để cầu phúc cho mẹ được thoát tội”. Năm Đại Đồng thứ 4 (538) vua Lương Vũ đế bắt đầu mở hội chay Vu Lan Bồn tại chùa Đồng Thái, đến thời Đường mới tổ chức khắp nhân gian. Từ đây, tết Trung nguyên là một ngày hội của Phật giáo, các nhà sư mọi chùa chiền đều tụng kinh niệm Phật, cầu siêu linh hồn, bố thí chúng sinh.
Ngày hội Vu Lan Bồn đi vào dân gian hóa thành tiết “Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân”. Người nào cũng nghĩ rằng người thân lúc còn sống khó tránh tội lỗi, khi chết nếu phải sa xuống Địa ngục thì hôm ấy cũng được tha thứ, nên lo cúng tế cỗ bàn và vật dùng, hy vọng họ sẽ tiếp nhận đầy đủ. Ngày tiết chỉ còn là một tục lệ, dẫu ai không tin cũng làm theo vì tấm lòng con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Nếu ai đã tin (có lẽ chiếm đại đa số) niềm tin ấy vô cùng sâu sắc, không cần giải thích, chứng minh. Trong sâu thẳm tâm linh của mình, họ tin có linh hồn bất tử, có thiện ác báo ứng, có thiên đường địa ngục, có “Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân”.
Quan niệm hồn phách, hồn vía khá phổ biến trong các tộc người. Nhưng quan niệm của họ không đơn giản như nhau mà khác nhau đến kỳ lạ. Người Kháng (Tây Bắc Việt Nam) cho rằng người sống bởi năm hồn: Hồn chính ở đầu, bốn hồn ở tứ chi. Khi chết cả năm hồn đều thành ma. Hồn ma đầu ngụ ở trong nhà để phù hộ con cháu (ma ngặt nhà), hồn tay phải ngụ ở lều canh nương để coi sóc mùa màng (mati kntor), hồn tay trái thành ma ở gốc cây làm quan tài (ma ngặt hóm), hồn chân phải biến thành ma nhà mồ (ma ngặt nhà mớn), hồn chân trái lên trời thành ma trời (ma ngặt xừ ừ). Người Ơ - Đu tin hồn ở trên đầu (cũng như người Khơ-me, người Ơ-Đu cư trú ở Việt và Lào), vì thế người ta kiêng người khác sờ vào đầu mình. Lúc chết, hồn lìa xác đi mất, cho nên ngay tối làm lễ mai táng, ông trưởng họ phải cầm đuốc ra bãi tha ma để rước hồn ma về. Người Bru (ở Bình-Trị-Thiên) nói người chết có hai hồn: hồn chính vốn ở gốc chỏm tóc trên đầu ở lại làm ma nhà, gọi là bua đinh, hồn phụ ở thân mình đi với xác ở bãi tha ma. Người Xơ-Đăng (cư trú ở Gia Lai, Kon Tum) cho rằng người ta chỉ có một hồn. Khi người mới chết, hồn phải nằm ở nghĩa địa đầu làng, chờ sứ giả của nữ thần dệt vải đón dẫn tới động của thần. Người La-Ha (cư trú ở Tây Bắc Việt Nam) lại cho mỗi người có 8 hồn, hồn chủ ở đỉnh đầu, các hồn khác ở mồm, mũi, cầm, hai tay, hai chân.
Kỳ lạ hơn, người Mường quan niệm “vía” là hồn người sống, “ma” là hồn người chết, và mỗi người có những chín mươi “vía”, chia ra bốn mươi “vía” ở bên phải, năm mươi “vía” ở bên trái!
Người Việt chịu ảnh hưởng Đạo giáo, thường nói “Tam hồn thất phách” hoặc “Ba hồn bảy vía”. Tam hồn là gì? Đạo giáo giải thích: Thứ nhất hồn Thái Quang, thứ hai hồn Sảng Linh, thứ ba hồn U Tinh. Đạo giáo không cho biết rõ công dụng của mỗi thứ hồn, chỉ nói phép nhiếp tam hồn, một phương pháp tu luyện làm cho thần khí cứng rắn, tinh hoa tích tụ, thân thể không già yếu. Suy ra ta có thể hiểu hồn thứ nhất thuộc về thần khí con người, hồn thứ hai thuộc về tinh hoa con người, hồn thứ ba thuộc về thân xác con người. Dân gian vì không hiểu sâu Đạo học nên giải nôm: một hồn ở đầu, một hồn ở ngực, một hồn ở chân. Chữ “chân” này không phải là chân cẳng hay chân với tay mà là chân thân, cái thân thể đích thực của người ấy. Tục “gọi hồn” và phép “phụ hồn” không nói rõ gọi hồn nào trong ba hồn hay cả ba hồn, vì chắc chắn họ không đủ trình độ để hiểu biết. Khi chết, con người chỉ còn một hồn Thái Quang, là tinh thần, thần khí hay linh khí, tinh anh...riêng của mỗi người. Tuy không còn thể xác, không còn mắt, mũi, chân, tay...các giác quan để làm chỗ dựa nhưng nó có khả năng nhận biết tất cả, thế mới gọi là linh hồn (hồn thiêng).
Theo tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc: Y lý Trung Hoa nói: “Can tàng hồn, phế tàng phách” (Gan chứa hồn, phổi chứa phách). Từ lý luận ban đầu này, các nhà y học cổ điển phát triển lên thất phách: tâm phách (tim), can phách (gan), tỳ phách (tỳ vị: dạ dày, lá lách), phế phách (phổi), thận phách (2 quả thận), khẩu phách (miệng lưỡi), ý phách (bộ não). Tiến bộ hơn, họ phân định đàn ông có thất phách, đàn bà thêm thai phách (dạ con và thai nhi), huyết phách (kinh nguyệt) thành cửu phách. Đạo giáo cũng nói đến thất phách (không có cửu phách) với những tên gọi khó hiểu: Thi cẩu, Phục thỉ, Tước âm, Thôn tặc, Phi độc, Trừ uế, Xú phế. Họ nói thất phách là 7 tên quỷ độc hại trong thân thể con người, và đạo giáo có phương pháp tu luyện để chế ngự hay diệt trừ chúng, làm cho thân thể nhẹ nhàng sảng khoái bay lên trên không thành thần tiên, sống mãi không già, không chết.
Cần phân biệt rõ: thuyết tam hồn thất phách, tam hồn cửu phách của y học nhằm mục đích chữa bệnh cứu người, thuyết tam hồn thất phách của Đạo học (Đạo giáo) không ngoài việc tu luyện đắc đạo thành tiên. Thuyết tam hồn thất phách hay cửu phách của Đông y có giá trị khoa học thực tiễn. Ví dụ họ nói “Can tàng hồn” cũng như bảo “Can tàng huyết”. Khi người ta nằm ngủ hay mơ chuyện quái đản, ghê sợ là do ở huyết, huyết kém, xấu mà sinh ra vì “huyết biến vi tà”, phải chữa bệnh huyết, mà chữa bệnh huyết thì không thể quên chức năng can (gan) bởi “can tàng huyết” (gan chứa huyết)...
Tục gọi hồn nhập quan, đàn ông gọi ba hồn bảy vía hoặc đàn bà gọi ba hồn chín vía, dân gian theo thuyết Đông y là lầm lẫn lâu ngày thành thói quen, cứ bắt chước lẫn nhau, không ai đặt câu hỏi: tại sao như thế, như thế đúng hay sai? Cứ lý suy ra, người chết phổi ngừng thở, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, mọi giác quan đều ngừng hoạt động, các tế bào bắt đầu chuyển sang trạng thái phân hủy bốc mùi xú khí...hồn phách nhập quan để làm gì, có tác dụng gì? Lại nữa, đàn bà đến tuổi 50 hết kinh nguyệt, thôi sinh đẻ, không còn thai phách, huyết phách, sao vẫn gọi “chín vía” (cửu phách)? Thuyết Đông y là cơ sở khoa học trị bệnh, chỉ áp dụng với người sống, đâu còn ý nghĩa với người chết?
Nếu theo thuyết Đạo giáo, gọi hồn người chết chỉ nên gọi “Ba hồn bảy vía” đàn ông như đàn bà. Nhưng Đạo giáo không nói rõ người chết rồi vẫn còn đủ cả “tam hồn thất phách”, mà “thất phách” là 7 tên quỷ độc tan theo thể xác, và “tam hồn” chỉ tồn tại hồn Thái Quang tức linh hồn, cái tên thường gọi. Hồn Thái Quang hay linh hồn không nhập quan trở về với xác chết, nương tựa ở xác chết. Sau khi người chết vong hồn nương tựa vào thần chủvà hồn bạch. Thần chủ còn gọi là thần vị, linh vị là miếng gỗ viết tên tuổi, chức tước người chết để thờ cúng mãi mãi. Nghi thức làm thần chủ của vua, chúa, quan dân khác nhau. Với dân thường, thần chủ làm theo lối đơn giản đến mức sơ sài: một thẻ tre hay một miếng giấy viết nguệch ngoạc tên tuổi, cắm vào lát chuối cây cũng xong. Gia cảnh bần cùng chỉ có bát hương bằng lát chuối cây với năm ba nén hương còn khó, nói gì linh vị và hồn bạch! Hồn bạch là dải lụa thắt lại giống như hình người đủ 3 phần: đầu, mình và chân để thu hồn vào đó, khi mai táng rước đi trước linh cữu, rồi chôn bên cạnh nấm mồ.
Linh hồn là tinh anh, là khí thiêng của con người, cái tinh thần ấy nếu không mất cũng không thể “nhập quan”, không thể nhập vào cái xác ô uế, người ta phải đào sâu chôn chặt!
Hồn phách cũng là vấn đề cốt yếu của sinh tử. Đức Khổng tử tránh bàn về sinh tử. Ngài nói: “Chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết?” (Vị tri sinh, yên tri tử). Nói “tránh bàn” không có nghĩa bảo Khổng tử không đủ khả năng bàn tới. Vấn đề ở chỗ ngài tự xét thấy mình không thể đưa ra ý kiến thuyết phục trong tình hình thiên hạ bấy giờ tồn tại cả hai thuyết “Hữu thần luận” và “Vô thần luận”: Thượng đế sinh ra con người với linh hồn bất tử hay không có Thượng đế, cũng không có linh hồn bất tử?
Các nhà sáng lập tôn giáo đều đặt vấn đề sinh tử lên hàng đầu và xem đó là đề tài thú vị. Người Việt Nam tiếp nhận nhiều tư tưởng tôn giáo, trong dân gian quan niệm về sinh tử khó tránh mâu thuẫn và phức tạp. Quan niệm khá phổ biến và tương đối thống nhất: Trời sinh ra muôn loài vạn vật, con người chết không mất. “Sinh ký tử qui” là câu nói cửa miệng người đời, nhưng thói đời vẫn ham sống sợ chết, vẫn chúc tụng “Phú quý thọ khang ninh” và không thể biết mình chết về đâu một cách chắc chắn!
Chúa Giê-su tạo ra người, vật, cho người có linh hồn, vật có giác hồn, người chết tùy theo hành vi lành, dữ mà về nước Chúa, hầu hạ Chúa hay bị đầy xuống hỏa ngục, còn loài vật, giác hồn tan cùng thể xác. Phật Thích-ca không công nhận thuyết linh hồn bất tử, nhưng lại đưa ra thuyết đầu thai chuyển kiếp bằng các “Thức” Mạt-na, A-lại-gia, khác gì linh hồn? Dân gian đâu nhớ được, hiểu được mấy cái “Thức” khó hiểu, khó nhớ ấy, vẫn nói linh hồn đầu thai kiếp khác! Phật giáo truyền vào Trung Quốc ra đời tông phái Mật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do Đại Nhật Như Laibiến hiện ra. Đại Nhật Như Lai là gì, nếu không phải là một Thượng đế, một Chúa Trời kiểu khác, mang tên khác?
Câu “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” (Sự chết như sự sống, sự mất như sự còn; Cũng được dùng để nói việc thờ cúng: Thờ lúc chết như lúc sống, thờ lúc mất như lúc còn) là một mệnh đề triết lý, thuộc phạm trù triết học. Nghĩa là sự vật chỉ chết ở dạng này để sinh ở dạng khác, mất ở nơi nọ lại còn ở nơi kia, như chuyện vua nước Sở đánh mất cây cung, người nước Sở bắt được, có đi đâu mà mất? Nhưng dân gian lại dẫn giải theo cách dân gian: Sống như thế nào, chết như thế ấy! Tức là cũng ăn uống, làm lụng với mọi nhu cầu như lúc sống! Nói cách khác: cõi Âm là phản ánh trung thực cõi Dương, Âm và Dương tuy đối lập, mâu thuẫn nhưng vẫn nhất thống trong một khối thống nhất. Đó là nguyên nhân chủ yếu, chỗ dựa căn bản cho mọi nghi thức cúng tế ra đời và tồn tại. Mọi học thuyết, đến cả tôn giáo đều do con người mà có, tại sao không phải chính Thượng đế cũng là sản phẩm của con người?
HTP (Trích "Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt"-NXB Thanh Hóa)