Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

CHÀNG hay TRÀNG, VẠT ÁO hay CỔ ÁO?


                               Hoàng Tuấn Công
Áo dài ngày xưa
                                                                Ảnh: Internet
 Tục ngữ Việt Nam có câu “Áo cứ tràng, làng cứ xã” hoặc “Áo cứ tràng, làng cứ lý trưởng”. Tuy nhiên trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, GS Nguyễn Lân lại đưa ra một dị bản rất lạ: “Áo cứ CHÀNG, làng cứ xã” và giải thích: “(Xã là chức dịch trong làng). Nói tính ỷ lại của người đàn bà, cũng như tính ỷ lại của người dân trong thôn xóm, không thấy được vai trò làm chủ của mình”. Cách giải thích này bị không ít nhà nghiên cứu, biên soạn từ điển phản đối:
1. Đầu tiên, Học giả Huệ Thiên
(An Chi) phải thốt lên: “Thật là chuyện quá đỗi bất ngờ khi mà một quyển từ điển lại có thể viết sai chính tả và giảng sai nghĩa đến thế; hình thức chính xác của câu đang xét là “Áo cứ TRÀNG, làng cứ xã”. (Tại sao một số thành ngữ tục ngữ lại khó hiểu - An Chi). Trong bài Đọc lướt “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân An Chi một lần nữa cho rằng “Tràng là vạt trước của áo dài và đây là một cách hiểu hoàn toàn đúng với cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của câu tục ngữ đang xét”.
2. Trong Từ điển tục ngữ Việt, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương cũng lên tiếng phê phán: “Do tra cứu chưa kỹ nghĩa từ vựng của TRÀNG  trong câu Áo cứ tràng, làng cứ xã, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989-10) đã đánh đồng nó với CHÀNG và đinh ninh rằng CHÀNG này cũng chính là từ được “phụ nữ hay dùng để gọi chồng hoặc người yêu còn trẻ (với hàm ý thân thiết)”...Sơ suất đáng tiếc ấy đã đẩy tác giả tới chỗ phải đưa ra cho một lời diễn giải hoàn toàn “xa lạ” với cảm thức của bao người”. Rồi, TS Nguyễn Đức Dương khẳng định “TRÀNG là một từ cổ dùng để chỉ cái vạt trước của chiếc áo dài”.
3. Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của nhóm Vũ Dung-Vũ Thúy Anh-Vũ Quang Hào tuy không tranh luận gì với GS Nguyễn Lân nhưng cũng đưa ra dị bản giống An Chi, Nguyễn Đức Dương và chú giải “(tràng: tràng áo, tức vạt áo; xã; xã trưởng, người đứng đầu xã).
Như vậy, An Chi, Nguyễn Đức Dương và nhóm Vũ Dung đều có hai điểm tương đồng, thống nhất cao: 1. Công nhận dị bản TRÀNG chứ không phải CHÀNG; 2. Khẳng định TRÀNG là vạt trước của chiếc áo dài.
Vậy ai đúng, ai sai ? Và sai, đúng như thế nào ?
Có thể khẳng định ngay: An Chi, Nguyễn Đức Dương và nhóm Vũ Dung đã đúng khi lựa chọn TRÀNG chứ không phải CHÀNG. GS Nguyễn Lân đã sai hoàn toàn khi nhầm “tràng”, một bộ phận của chiếc áo thành “chàng”  là chồng, người yêu và đưa ra cách giải thích không thể chấp nhận. Có lẽ GS cho rằng: việc giặt giũ, vá may quần áo lẽ ra người phụ nữ phải đảm đương, đằng này ỷ lại, “cứ” (để cho) “chàng” (chồng) phải lo, phải làm, (nên gọi là“áo cứ chàng”); còn công việc của làng “người dân trong thôn xóm” “cứ” (ỷ lại) cho ông xã trưởng mà “không thấy vai trò làm chủ của mình”( nên gọi “làng cứ xã”) chăng ? !
Tuy nhiên, liệu An Chi, Nguyễn Đức Dương, nhóm Vũ Dung đã đúng khi cho rằng TRÀNG trong câu tục ngữ là cái vạt trước của chiếc áo dài ? Theo tôi, ở ý thứ hai, các nhà khảo cứu, biên soạn đã thay cái sai này bằng cái lầm khác. TRÀNG trong câu tục ngữ có nghĩa là cái cổ áo, không phải cái vạt trước của chiếc áo dài. Để đến được kết luận ấy, ta cần phải đi đường vòng. Tức xét nghĩa Hán Việt của từ lĩnh領 (cổ áo) trong một số cuốn từ điển, tự điển:

4.Khang Hy tự điển:
領:(...) 里整切音嶺。領,頸也。(...)。亦言總領衣體,爲端首也:“Lĩnh (...) Lý chỉnh thiết, âm lĩnh (...) “Lĩnh, cảnh dã (...), diệc ngôn tổng lĩnh y thể, vi đoan thủ dã” nghĩa là: Chữ Lĩnh - thiết âm là lý chỉnh, âm đọc là lĩnh. Lĩnh-cái cổ (...) cũng chỉ bộ phận thống lĩnh đối với chiếc áo; là cái đầu mối vậy”.
    2. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: “Lĩnh 領.① Cái cổ...② Cái cổ áo, một cái áo cũng gọi là [b]nhất lĩnh[/b] 一領. Xóc áo thì phải cầm cổ, cầm tay thì áo mới sóng, vì thế nên người nào quản lí một bộ phận, một nhóm gọi là [b]lĩnh tụ[/b] 領袖 (đầu sỏ)”.
  3. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giải thích: “Lãnh 領-Cái cổ-Cổ áo-Một cái áo-Thống suất cả…”. “Lãnh tụ - Cổ áo và tay áo. Khi cổi áo tất trước cầm cổ áo và tay áo-Ngb. Người có tài xuất chúng làm thủ-lãnh cho nhân-chúng”.
Trong 3 cách giải thích, Thiều Chửu rõ ràng hơn cả. Tuy nhiên, hai từ “xóc áo” và “sóng” có vẻ hơi khó hiểu. Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giải thích: “2.Xóc: Xách lên mà lắc để cho xuống đều: Xóc cổ áo”; “Sóng: Trơn óng, thẳng, không rối”. Từ điển AN NAM - LUSITAN - LA TINH- A.de Rhodes giải thích “Xóc: Xóc áo: Xóc áo đã mặc để cho thẳng”.
Như vậy, từ lĩnh với nghĩa cổ áo-bộ phận thống lĩnh, chức năng thâu tóm cả cái áo tỏ ra rất “đắt”, rất hợp với nghĩa của chữ TRÀNG trong câu tục ngữ đang bàn. Thế nhưng, tục ngữ nói tràng, đâu có nói lĩnh ? Dựa vào đâu để nói rằng tràng chính là cách gọi nôm của lĩnh ? Câu trả lời có trong các sách:
1. Tam thiên tự - Đoàn Trung Còn viết: “Y 衣 - Áo; Lãnh 領 - Tràng”. 
2. Ngũ Thiên Tự  (bản Hán, Việt, Pháp) Đoàn Trung Còn chú rõ hơn: “領-Lãnh (lĩnh) - Tràng (cổ áo) - Col”.
3. Việt ngữ tinh nghĩa từ điển - Long Điền Nguyễn Văn Minh (tr.133) giải thích: “Lãnh"  mục “c, là tràng áo, như “lãnh tụ” tràng áo và ống tay áo, chỉ dùng với nghĩa bóng nói người đứng đầu một đảng phái.”
4. Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức: “領-Lĩnh. Tràng áo (không dùng một mình). Lĩnh tụ 領 袖 tràng áo và tay áo. Chỉ dùng nghĩa bóng để nói người đứng đầu một đảng- phái: Lĩnh - tụ đảng xã hội”.
5. Đại Nam quấc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của: “Lãnh: Tràng;(...) Áo viên lãnh: Áo cổ tròn, áo cổ trịt”. (Trịt ở đây có nghĩa là bệt, bẹt xuống, tức không phải áo cổ đứng-HTC).
Như vậy, ít nhất 5 cuốn từ điển, tự điển Hán Việt thích nghĩa chữ lĩnh nghĩa nôm trực tiếp là tràng (cổ áo). Kết luận: lĩnh - tràng - cổ áo - bộ phận quan trọng nhất của cái áo. Cách kết cấu ngữ pháp, ngữ nghĩa của dân gian rất rõ ràng, đăng đối chặt chẽ: tràng (cổ áo) là bộ phận mấu chốt, căn bản nhất của cái áo, giữ vị trí thống lĩnh đối với cả cái áo; xã (xã trưởng, lý trưởng) là cấp chủ chốt, quản lý cao nhất của làng. Muốn “xóc” (cầm, túm,) để giũ cái áo cho phẳng cứ nắm lấy phần cổ áo là chắc chắn, gọn gàng nhất. (Thực tế, trong sinh hoạt hàng ngày, khi cầm chiếc áo, ta đều chọn vị trí cổ áo, thậm chí khống chế một người nào đó, người ta vẫn hay nắm lấy vị trí cổ áo); cũng như gặp việc ở trong làng (phu phen, tạp dịch, bắt rượu lậu…) cứ nắm lấy người đứng đầu có trách nhiệm cao nhất “xã” (trưởng) mà “gõ” xuống. (Bởi thế, dân gian có câu: Đục đến chạm thì chạm đến khăng, Đòn đánh lý trưởng thì văng cả làng là vậy).
Trở lại cách lý giải của các nhà nghiên cứu và biên soạn từ điển. Vì chọn nghĩa TRÀNG là vạt trước của áo dài nên tất cả đều rất lúng túng khi đưa ra lý giải tại sao lại “cứ tràng” (cứ vạt áo). Cái vạt áo (vốn chỉ đáng được “vinh danh” ở một số chức năng “sáng tạo tự phát” ngoài trang phục như: lau nước mắt, lau, chùi, đùm, đựng, vân vê làm dáng...) đã bị các nhà ngữ học, biên soạn gán ghép cho một số chức năng rất “hoang đường”:
1. Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của nhóm Vũ Dung giải nghĩa: “Áo cứ tràng...” là “muốn tìm ai thì cứ túm lấy vạt áo”. Thế nhưng, nếu hiểu như vậy lại thành “Người cứ tràng...” (người thì cứ tràng (vạt áo) mà túm) chứ không phải “Áo cứ tràng...” nữa. Vả lại, còn đang đi “tìm ai” đó thì làm sao túm được “vạt áo” của người ấy ?
2. Từ điển tục ngữ Việt của Nguyễn Đức Dương giải thích: “Áo thì nên lấy tràng làm chỗ dựa (khi cắt may) làng thì nên lấy lý trưởng làm chỗ dựa (khi tiếp xúc, bình phẩm)”. Nếu giải thích như vậy, tục ngữ này lại đưa đến cho ta một kinh nghiệm khác, đó là cách cắt may áo mất rồi ! Và không biết Nhà ngữ học đã tiếp thu cái “kinh nghiệm” này ở đâu ? Vạt áo không bao giờ là chỗ dựa khi cắt may. Bởi bộ phận này dẫu ngắn - dài, hay rộng - hẹp một chút cũng không sao, nhưng cổ áo, vai áo mà chật thì mặc không nổi. Nói lấy vạt áo “làm chỗ dựa (khi cắt may)” là một kiểu gán ghép rất phi lý. Ấy là chưa kể đến “kinh nghiệm ngoại giao” “lấy lý trưởng làm chỗ dựa (khi tiếp xúc, bình phẩm)” cũng có “vấn đề”. Bởi “bình phẩm” về làng xã mà chỉ dựa vào mỗi ông lý trưởng thì làm sao chính xác ? Không lẽ mỹ tục thuần phong của làng xã tập trung cả nơi ông xã, ông lý chăng ?
3. Riêng Nhà từ nguyên học An Chi thật khôn khéo khi không cố giải thích tại sao lại “áo cứ tràng” mà chỉ dừng ở chỗ khẳng định TRÀNG là vạt trước của áo dài. Đúng là Từ điển AN NAM - LUSITAN - LA TINH A.de Rhodes có giải nghĩa “Tlàng áo: phần trên chiếc áo che cổ” (Tlàng là cách phát âm xưa của tràng-TC). Tuy nhiên, A.de Rhodes chỉ giải nghĩa từ vựng mà không giải thích ý nghĩa hàm ẩn của từ tràng (cổ áo). Chính vì vậy nên ngay cả khi An Chi tiếp cận với dữ liệu này, ông vẫn lựa chọn nhầm TRÀNG trong câu tục ngữ đang bàn với nghĩa cái vạt trước của chiếc áo dài, chứ không phải là chiếc cổ áo trứ danh ?
Đến đây, ta thấy thêm một thực tế: từ TRÀNG với nghĩa là cổ áo và TRÀNG với nghĩa là vạt trước của chiếc áo dài thường bị đánh đồng làm một (theo nghĩa thứ hai vạt áo) ngay cả đối với các nhà làm từ điển. Ví dụ:
1. Chữ 領 lĩnh (lãnh), Việt Nam tự điển và Đại Nam quấc âm tự vị đều giải nghĩa là tràng (cổ áo). Nhưng cũng chính trong hai cuốn tự điển này, ở mục từ tràng lại chỉ thấy thích nghĩa vạt trước của áo dài mà không hề nhắc đến nghĩa cổ áo đã được chú ở mục từ lãnh, lĩnh.
2. Từ điển từ Việt cổ của Nguyễn Ngọc San - Đinh Văn Thiện, Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên và nhiều cuốn từ điển khác đều cho rằng tràng là từ cổ, chỉ duy nhất có một nghĩa liên quan đến trang phục là vạt trước của chiếc áo dài.
3. Cuốn từ điển cổ xưa Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, mục Y quan bộ đệ cửu, chữ tràng với nghĩa cổ áo cũng bị người phiên âm chú giải thành vạt áo:
Hộ Lĩnh buộc che ngoài tràng.
Yểm Lý danh rằng lụa vuốt mồ hôi
Trần Xuân Ngọc Lan chú thích “Tràng: vạt áo”. Tuy nhiên, chữ 領-lĩnh có một số nghĩa: cổ, cổ áo, một cái áo... Chữ “lĩnh” trong “hộ lĩnh” phải được hiểu là cái cổ, “hộ” là bảo vệ, che chắn, “hộ lĩnh” = vật bảo vệ cái cổ (tức cái khăn quàng cổ). Tên gọi này xuất phát từ chức năng của cái khăn quàng cổ, ban đầu chỉ có ý nghĩa thực dụng là bảo vệ cái cổ (hộ lĩnh). Sau này, cái “hộ lĩnh” mới trở thành phục sức, (nghĩa là thêm cả chức năng trang điểm, làm dáng) và được gọi là lĩnh cân (khăn quàng cổ). Cách giảng giải của tác giả Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là: Vật bảo vệ cái cổ (hộ lĩnh) được buộc che ở bên ngoài cái cổ áo (tràng). Hai câu: Hộ Lĩnh buộc che ngoài tràng,Yểm Lý danh rằng lụa vuốt mồ hôi đều nói về hai mảnh vải: một là khăn quàng cổ buộc che bên ngoài tràng (cổ áo) và một là mảnh lụa “vuốt”(lau, thấm) mồ hôi, được lót ở phía trong áo. Điều này hoàn toàn phù hợp với văn cảnh và cách trình bày của Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa: xếp từ theo chủ đề, theo cặp từ, loại từ cùng chỉ về sự vật, hiện tượng nào đó. Ví như cặp nói về hai loại áo của vua: “Long Cổn” và “Hoàng bào”:
Long Cổn hiệu là áo rồng,
Hoàng bào Tống tổ mặc phong mạ vàng
Hoặc cặp nói về hai loại áo “Sa y” và “Hiệp y”:
Sa y mặc mát áo the.
Hiệp y áo kép kéo dê càng dài.
Rồi cặp từ nói về hai loại đai (dải):
Kê Đới tơ điều thắt ngoài.
Hộ Đới dải áo hằng cài tương liên.
Nếu hiểu tràng là vạt áo theo cách chú giải của Trần Xuân Ngọc Lan, thì “lĩnh” ở đây có nghĩa là một cái áo, “hộ lĩnh” là vật bảo vệ cái áo? Hộ Lĩnh buộc che ngoài tràng là Vật bảo vệ cái áo được buộc che ngoài vạt áo. Diễn giải này hết sức vô lý. Vì ta không thấy có bộ phận hay một thứ trang phục nào lại có thêm một vật đảm nhận chức năng bảo vệ cái áo và nằm ở vị trí buộc che ngoài vạt áo như vậy. Mặt khác, vị trí xung yếu, thường bị rách, rách trước tiên của áo cần được “hộ” (bảo vệ) là vai áo, chứ không phải vạt áo.
Thực tế trên buộc ta phải nhìn nhận lại một số cách giải thích, cách hiểu về từ “tràng”. Trong các câu thơ: Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh (Truyện Kiều-Nguyễn Du), Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư - mã đượm tràng áo xanh. (Tỳ - bà - hành). Thì “tràng” ở đây chính là vạt trước của áo dài thấm những “giọt châu”, giọt lệ “tầm tã”, “chứa chan”. Tuy nhiên câu “Áo rách phải giữ lấy tràng” thì tràng lại là cổ áo chứ không phải vạt áo? Bởi vì, cái cổ áo là bộ phận quan trọng nhất của cái áo nên dù áo có rách (ở đâu) chăng nữa cũng phải giữ được cái cổ áo lành lặn. Cũng giống như cái lề của tờ giấy rất quan trọng nên dù rách ở đâu cũng phải giữ lấy cái lề (Trong câu đồng nghĩa “Giấu rách phải giữ lấy lề”). Thế nhưng, nhiều nhà nghiên cứu, biên soạn từ điển lâu nay vẫn nhầm lẫn khi cho rằng trong câu tục ngữ Áo rách phải giữ lấy tràng thì tràng nghĩa là vạt áo:
1. An Chi trong bài phê bình GS Nguyễn Lân viết: “Tràng” (...) được hiểu là cái vạt trước của chiếc áo dài. (Tục ngữ còn có câu “Áo rách phải giữ lấy tràng” mà chính Nguyễn Lân cũng đã có ghi nhận)”.
2. Nguyễn Đức Dương trong Từ điển tục ngữ Việt chú thích tràng là vạt trước của áo dài và giải thích: “Áo dù có rách chăng nữa thì cũng phải cố giữ cho được cái tràng (để còn dùng được vào việc khác). Hay dùng với ẩn ý: nh. Giấy rách phải giữ lấy lề”.
3. Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức, mục từ “lĩnh” chú nghĩa "tràng (cổ áo)" nhưng mục “tràng” lại chỉ ghi nhận “Tràng: Vạt dài trong áo: Tràng áo” Rồi trích dẫn: “Văn liệu: Áo rách thì giữ lấy tràng, Đủ đóng đủ góp với làng thì thôi (C-d). Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư - mã đượm tràng áo xanh. (Tỳ - bà - hành). Như thế Việt Nam từ điển đã sai khi đánh đồng chữ tràng (cổ áo) trong câu tục ngữ Việt và chữ tràng (vạt áo) trong câu thơ dịch Tỳ bà hành làm một.
Riêng Nguyễn Đức Dương đã dấn sâu vào sai lầm khi giải thích“Áo dù có rách chăng nữa thì cũng phải cố giữ cho được cái tràng (để còn dùng được vào việc khác). Xin hỏi, “việc khác” ở đây là gì, nếu không phải là để “tận dụng” làm miếng vá vào chỗ rách của chiếc áo khác, hoặc làm giẻ lau ? Nếu chỉ với mục đích như vậy thì liệu có cần “cố sống cố chết” mà giữ cho được cái vạt áo của chiếc áo rách bỏ đi không ? Tục ngữ đang nói cái áo rách nhưng vẫn mặc, vẫn dùng cơ mà ? Nếu đủ cả lục bát “Áo rách phải giữ lấy tràng, Đủ đóng đủ góp với làng thì thôi, ta sẽ hiểu: Áo (mặc trên người) dù có rách ở đâu thì cũng phải giữ lấy phần quan trọng nhất là cái tràng (cổ áo); Cũng như dù khó khăn nghèo túng đến mấy cũng phải cố gắng đủ đóng đủ góp nghĩa vụ với làng.
Có thể nói câu tục ngữ Áo cứ tràng, làng cứ xã có “niên đại” rất sớm. Sớm đến mức từ tràng (với nghĩa cổ áo) đã trở nên mờ nhạt, thậm chí biến mất hoàn toàn trong sách vở và ngôn ngữ thời hiện đại. Chỉ khi trả lại cho chữ tràng trong câu Áo cứ tràng, làng cứ xã (và Áo rách phải giữ lấy tràng) nghĩa chính xác là cái cổ áo vấn đề mới được sáng tỏ. Đây chính là bài học kinh nghiệm điển hình đối với các nhà sưu tầm biên soạn từ điển thành ngữ, tục ngữ. Nhiều trường hợp không thể chỉ tra cứu kỹ nghĩa từ vựng của từ nôm trong câu tục ngữ (như cách Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương từng chỉ giáo GS Nguyễn Lân) rồi đoán định, áp đặt cách hiểu. Trong khi ý nghĩa đích thực của nó lại nằm trong từ vựng từ Hán Việt./.

Những sách đã dẫn và tham khảo:
1,Đại Nam quấc âm tự vị (Dictionnaire ANNAMMITE) Huình Tịnh Paulus Của-Sài Gòn 1895.
2,Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa -Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm chú giải (NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1985).
3,Ngũ thiên tự Đoàn Trung Còn (Nhà xuất bản Thanh Niên-1999)
4, Từ điển AN NAM - LUSITAN - LA TINH (thường gọi Từ điển Việt-Bồ-La) A.de Rhodes  - NXB Khoa học xã hội-1991.
5,Việt Ngữ Tinh nghĩa từ điển-Long Điền Nguyễn Văn Minh (-NXB Quảng Vạn Thành- Hà Nội 6/1950).
6.Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam -GS Nguyễn Lân (NXB Văn hóa - 1989)
7.Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức - Nhà in Trung Bắc Tân Văn - 1931. 
8. Từ điển từ Việt Cổ-Nguyễn Ngọc San- Đinh Văn Thiện-NXB Văn hóa thông tin-2001(Cần nói thêm từ tràng vốn gọi đầy đủ là tràng vạt (trường vạt-vạt dài), sau này mới biến đổi và gọi tắt là tràng (trường) với nghĩa mặc định là vạt trước của áo dài. (Đúng như Đào Duy Anh giải thích trong Từ điển Truyện Kiều). Theo đó, từ tràng vạt có sớm hơn, cổ hơn từ gọi tắt tràng).
9. Một số bài viết của Huệ Thiên (An Chi) được đăng lại trên e.cadao.com và ngonngu.edu.vn



Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

NGUỒN GỐC Ý NGHĨA TANG LỄ NGƯỜI VIỆT (kỳ I)

  
       Hoàng Tuấn Phổ

TCTP: Thời gian vừa qua, nhiều bạn đọc ngỏ ý muốn tìm mua sách đã xuất bản của Hoàng Tuấn Phổ. Tuy nhiên, điều này có thể nói là rất khó. Bởi với những tác phẩm đã xuất bản mấy chục năm trước có lẽ giờ may ra tìm thấy trong các thư viện. Nhiều cuốn, bản thân tác giả cũng không còn lưu được (do cho mượn rồi thất lạc). 
Ví dụ các cuốn: Sóng nước Cổ Khê (Truyện lịch sử) Miếng võ gia truyền (Truyện thiếu nhi-NXB Kim Đồng)...Một số cuốn chỉ còn độc bản như: Vua Lê Đại Hành, Thắng Cảnh Sầm Sơn, Vũng lầy,... Sách in gần đây như: Thanh Hóa ngàn xưa lưu dấu (NXB trẻ), Những làng cổ tiêu biểu Thanh Hóa (NXB Dân Trí), Văn hóa đánh bắt chim thú tôm cá ở Thanh Hóa (NXB Khoa học xã hội)...các nhà xuất bản chỉ biếu lại tác giả 10 cuốn, còn lại họ tự phát hành với số lượng không lớn (vì loại sách nghiên cứu đối tượng độc giả rất hạn chế). Loại sách Địa phương chí do Hoàng Tuấn Phổ chủ biên hoặc biên soạn (đều trên dưới 1000 trang) cũng đều do các huyện tự in, số lượng chỉ đủ phát hành nội bộ. Trên thị trường sách vì vậy cũng rất hiếm gặp hoặc không có. Được sự đồng ý của tác giả Hoàng Tuấn Phổ, trước tiên, Tuấn Công thư phòng xin trích đăng từng phần nội dung sách “Nguồn gốc ý nghĩa tang lễ người Việt” (NXB Thanh Hóa). Đây là cuốn sách do UBND tỉnh Thanh Hóa cấp kinh phí phát hành tới các làng xã Thanh Hóa, phục vụ phong trào xây dựng làng văn hóa và nông thôn mới. Chúng tôi tin rằng sách “Nguồn gốc ý nghĩa tang lễ người Việt” sẽ bổ ích đối với bạn đọc quan tâm tới vấn đề này. Các kỳ đăng sẽ được lưu trong mục Thường thức)
Trân trọng kính báo tới độc giả của Tuấn Công thư phòng.

                                  Phần I
I. TANG CHẾ XƯA VÀ NAY
(Thay lời nói đầu)
Tang chế là gì?
Là những quy định, thể chế, chuẩn hóa về hình thức và nội dung trong việc đưa tiễn người thân về nơi an nghỉ cuối cùng. Nói cách khác tang chế là chế độ, nghi thức về lễ tang hay tang lễ (Tang lễ là từ Hán - Việt, lễ tang là từ Hán - Việt được Nôm hóa. Vì thế ở sách này, vấn đề đem bàn luận có tính học thuật nên dùng từ Tang lễ). Người Việt ta từ ngàn xưa chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Đặc biệt vấn đề Tang lễ theo quy chế cổ rất phức tạp, gây phiền nhiễu và tác hại cho người sống, những người rồi chính họ cũng ra đi, để gánh nặng ma chay đè nặng lên vai con cháu.
Kinh lễ hay Lễ kinh là pho sách Nho học thời phong kiến thuộc bộ Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân thu), đã là học trò thì ai cũng phải nghiền thuộc. Trong Lễ kinh, nói rộng ra là Lễ truyện, Lễ ký đều có những chương, mục bàn về tang lễ được người Việt tiếp thụ đem ra áp dụng, nhưng không phải tất cả ý kiến mang giá trị nhân văn, thực chất bên cạnh yếu tố tích cực, không khỏi ít nhiều tiêu cực. Ví dụ: Chương “Vấn tang”, Lễ kinh nói: Khi cha mẹ mới chết, người con có hiếu phải đầu trần, chân đất, tóc xỏa, áo hở, tay đấm ngực, miệng gào khóc, mình lăn ra dãy dụa, thậm chí không được đốt lửa nấu ăn suốt trong ba ngày, chỉ nhờ chút nước cháo cầm hơi của hàng xóm đem cho... Như thế mới tỏ rõ được nỗi đau thương vô tận của người con chí hiếu!
Những chuyện ấy, thời xưa nhà nho rất coi trọng, và thời nay vẫn còn số ít người muốn khôi phục, tất nhiên chỉ về mặt hình thức. Họ không biết đó chẳng phải là lời dạy của đức Khổng tử, bậc thầy lớn về chữ Hiếu, về chữ Lễ của nhà nho. Theo Khổng tử: “Người con có hiếu là biết nuôi nấng cha mẹ, biết noi theo chí hướng tốt của cha mẹ”. Phát triển lời dạy của thánh sư, đồ đệ giỏi Tăng tử nói: Làm con cư xử không trang nghiêm không phải là hiếu. Thờ vua không trung thành không phải là hiếu. Bằng hữu mà thiếu tin tưởng nhau không phải là hiếu. Đánh trận mà không dũng cảm cũng không phải là hiếu...
Về chữ “Lễ” trong Tang ma, Khổng tử dạy rằng: Cha mẹ chết, con tất phải lo tang ma tế lễ. Nhưng tế lễ chỉ nên giản tiện(giản dị và tiện lợi) không bày vẽ thêm. Con tế lễ cha mẹ, quan trọng nhất là tấm lòng thành kính, không phải do lễ vật cúng tế. (Chương “Tế thống” - Lễ kinh).
Những lời dạy quý báu ấy phù hợp với đức tính truyền thống của người Việt ta ưa chuộng sự giản dị, tiện lợi, ghét giả dối, không thích phô trương, được đúc kết thành ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Cần có lễ vật nhưng không lấy lễ vật làm đầu, mượn tiếng cúng tế ông bà, cha mẹ để ăn uống lãng phí:
Bà chết cháu được ăn xôi,
Hai tay hai nắm bà ôi là bà!
Họ tôn trọng tục lệ thờ cúng tổ tiên để bày tỏ tấm lòng biết, nhớ công ơn tổ tiên: “Bắt thiếu giỗ không ai bắt cỗ lưng”. Họ phê phán kẻ không phụng dưỡng cha mẹ lúc sống, đến khi chết lại bày trò báo hiếu trả ân, chẳng qua để che miệng thế gian, và để: “Trước cúng cha sau va vô miệng”! v.v...
Tuy nhiên, những quan niệm tiến bộ của người Việt về tang ma trong thuần phong mỹ tục không đủ sức chống lại áp đặt của hệ ý thức tư tưởng phong kiến về luân lý lễ giáo. Triều đình phong kiến nước ta khuyến khích việc chuẩn hóa quy chế tang lễ theo quan điểm tiêu cực của Nho giáo, một số nhà nho biên soạn sách “Gia lễ” với vô số lễ tiết cầu kỳ, rườm rà, phức tạp về tang ma. Người ta có thể theo Hồ thượng thư gia lễ của Hồ Sĩ Dương, hoặc Gia lễ tiệp kính của Ngô Doãn hay Thanh thuận gia lễ của Lê Quý Đôn,... Vấn đề tang ma vốn đã phức tạp càng thêm rối loạn. Trước tình hình ấy, một nhà nho khác, ông Hồ Sĩ Tân biên soạn Thọ Mai gia lễ chú ý tham khảo, vận dụng trong giới hạn tư duy chủ quan đối với phong tục tập quán xã hội nước nhà. Do có ít nhiều tiến bộ so với các tập sách trước nó, Thọ Mai gia lễ nhanh chóng được dân gian tiếp nhận và lưu truyền. Đặc biệt dưới triều Nguyễn, Thọ Mai gia lễ được sử dụng như một thứ luật lệ về tang ma do chế độ nhà Nguyễn quy định.
Cuốn Thọ Mai gia lễ đương thời bị nhà nho Phạm Đình Hổ (1768-1839) tác giả sách Vũ trung tùy bút nổi tiếng - đả kích kịch liệt nội dung quê mùa, dốt nát, đưa ra những cách thức lạ kỳ chưa từng thấy, soạn giả thu thập, nhặt nhạnh những điều vớ vẩn, bỏ cái này, chọn cái kia, loạn sị ngậu... Phạm Đình Hổ chỉ trích đích danh Hồ Sĩ Tân soạn Thọ Mai gia lễ, khắc in phát hành nhằm thu lợi, có người đã muốn đem sách trình vào phủ chúa Trịnh, Bồi tụng Trần Công Xán phải lựa lời nói mãi mới thôi. Thành ra sách cứ lưu hành ở đời, chốn thôn dã bởi dân tình thiếu cẩn thận nên dễ bán. Người ta tranh nhau mua, Hồ Sĩ Tân thu được lợi lớn. Nhưng chỉ dùng riêng ở thôn quê, các bậc thức giả đa phần coi thường. (Theo Trần Thị Kim Anh). Cần nói rõ hơn, quan điểm của Phạm Đình Hổ, một nho gia xem Gia lễ của Chu tử là kim chỉ nam, không thể đề cao các sách Gia lễ của Hồ Sĩ Dương, Ngô Doãn,... Bản thân Phạm Đình Hổ trong sách Vũ trung tùy bút (Bản dịch Trần Thị Kim Anh) cũng viết mấy bài về tang ma, tuy có đưa ra một số ý kiến, nhưng đại để là biện luận theo thuyết này hay thuyết kia, cốt yếu vẫn là trên tinh thần Chu gia lễ. Ví dụ:
Phạm Đình Hổ viết ở mục Cư tang: Khi người xưa nào đang lúc có đại tang mà thê thiếp có thai thì phạm lệ cấm. Từ khi ông Nguyễn Toàn An vì lệ cấm mà đến nỗi bị phạp tự (không con trai thờ cúng) mới bỏ lệ cấm ấy đi, đó cũng là lòng nhân đạo thương người, muốn khoan dung để cho mở rộng đường hiếu vậy. Song đó là vì đối với những kẻ chưa có con thừa tự mà rộng đường nhân. Còn những kẻ đã có con thừa tự (con thờ cúng) mà cũng mạo muội (phạm lệ cấm) làm theo thì thực là quái lạ! Như vậy, quan điểm Phạm Đình Hổ ở đây tưởng có cái nhìn tiến bộ, hóa ra chẳng có gì đổi khác.
Phạm Đình Hổ kịch liệt phê phán thói tục nhà có tang bày ra ăn uống linh đình, quên mất cả lòng báo hiếu... “Lại còn những nơi làng xóm thôn quê cứ theo hủ tục gặp một nhà có tang thì kéo đến hội họp từng lũ để ăn uống từ lúc mới mất cho đến lúc chôn, nếu có điều gì không được như ý thì viện lệ làng ra để hạch sách, làm cho người ta phải bán cả vườn ruộng để cúng vào cái mồm, cái bụng của những kẻ hạch ăn. Thói ấy đã nhiều lần sức cấm mà vẫn không đổi hết được, thực cũng lạ thay!”. Thái độ phẫn nộ hết sức đúng đắn của Phạm Đình Hổ, ngày nay chúng ta đọc lại tưởng như ông đả phá những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra chung quanh mình. Thế mới biết có những hủ tục, không dễ bài trừ!
Những “lệ làng” đến “phép vua” cũng phải “thua”! (Câu “Phép vua thua lệ làng” bị hiểu lầm là tinh thần tự do, dân chủ nơi thôn xã thời phong kiến). Sự thực, “lệ làng” sở dĩ tồn tại do không vi phạm luật pháp của triều đình, không chống lại lợi ích của gia cấp thống trị. Ngay như bản “Hương ước” do làng soạn ra cũng vậy, phải được quan trên xem xét, nếu không phạm đến phép vua luật nước, mới phê duyệt cho thi hành.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới của Đảng ta, nhanh chóng được nhân dân hưởng ứng thành phong trào rộng khắp, kiên quyết bài trừ hủ tục, chống xa hoa lãng phí, thực hành tiết kiệm. Nhưng do nền kinh tế thị trường tác động, có cả mặt tích cực và tiêu cực, “Phú quý sinh lễ nghĩa” mà không phú quý cũng đua đòi “sinh lễ nghĩa”, tạo điều kiện cho hủ tục phục hồi và Thọ mai gia lễ có cơ hội hồi sinh. Thực chất nội dung tư tưởng Thọ Mai gia lễ về căn bản đã lạc hậu. Mặc dù ở thời kỳ rạng rỡ nhất trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Thọ Mai gia lễcũng đã bộc lộ sự bất ổn bởi soạn giả với tất cả hạn chế của một nhà nho không vượt thoát nổi vòng xiềng xích tiêu cực của Nho giáo. Ví dụ: Khi linh cữu người thân còn quàn ở nhà, con cháu phải ngày mấy bữa dâng cúng cơm canh y như đang sống, nghi lễ “điểm thực” “điểm trà” rất phiền toái, đến nỗi dân gian từng mỉa mai, đả kích:
Chết thời điểm thực, điểm trà,
Sống xin một tý nước cà, không cho!
Cả cái nghi lễ văn cúng cũng vậy, mỗi lần dâng cúng là một lần đọc văn tế:
Lúc sống thì chẳng cho ăn,
Đến khi chết xuống, làm văn tế ruồi!
Trong việc biên soạn Quy ước nếp sống văn hóa mới của làng xã, tham khảo các “gia lễ” thời xưa cũ là cần thiết để gạn đục khơi trong, đãi cát tìm vàng, góp phần xây dựng tang chế văn minh, tiến bộ trên nền tảng thuần phong mỹ tục cổ truyền và dưới ánh sáng văn hóa Cách mạng. Mọi sự đề cao một chiều “gia lễ” đều sai lầm, không phải là phát huy truyền thống cha ông hay giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Bộ Văn hóa thực hiện chủ trương Chỉ thị của Đảng và Chính phủ, tiến hành nhiều cuộc tuyên truyền vận động toàn dân xây dựng Nếp sống văn hóa mới. Nhưng thực tiễn cuộc sống vốn muôn màu ngàn vẻ, vấn đề không chỉ là câu chuyện sách vở mà còn là phong tục, tập quán, một lĩnh vực khá nhạy cảm và hết sức phức tạp, khiến cuộc vận động thực hành quy ước Nếp sống văn hóa mới không dễ, đặc biệt về tang lễ.
Bàn về “Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt”, tác giả mong được góp một tiếng nói vào cuộc tuyên truyền, vận động ấy.
                                                      Hoàng Tuấn Phổ 
(Hết phần I-Đón đọc phần II "Hồn phách và sinh tử")



Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

GẶP GỠ NHÀ THANH HÓA HỌC

          HOÀNG TUẤN PHỔ
  
        Đào Huy Phụng

Hoàng Tuấn Phổ sinh ở làng Đoài (Quảng Xương-Thanh Hóa) vào đời ở quê gốc huyện Yên Mỹ (tỉnh Hưng Yên); thăng trầm và trưởng thành ở Thanh Hóa. Cuộc đời ông không có cái may mắn được đi đó, đi đây như một số người, bù lại trời phú cho ông cái ý thức ham học rộng (tự học) đọc nhiều và hiểu kỹ từng chữ nghĩa. 


Ông sống đơn giản như cây cỏ, bờ tre, mộc mạc chăm chỉ như người quê đất ruộng. Mặc dù đã ngoài lục tuần, nhưng thật ít khi tôi thấy ông dừng bút thăm thú bạn bè hay thư giãn đôi chút với đồng nghiệp xung quanh. Ai chuyện trò xuôi ngược ông cũng mặc, ai quấy phá ông, ông cũng quên. Ông đam mê với công việc đọc và viết-ngày cũng như đêm. Như thế đối với ông, không ai thấy có sự nhàn rỗi. Cái cực của nghề là thế; cái cực của ông là tự đầy đọa để cho đời những trang viết.
 Ông viết thật nhiều, và hầu như trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, văn hóa,...thể loại nào ông cũng có tác phẩm, bài viết được bạn đọc đón nhận, tin cậy. Ở tuổi ông, thường thì người ta ngại xê dịch qua nhiều lĩnh vực, thể tài để dồn sức vào một mảng việc cụ thể: Hoặc sáng tác, hoặc là nghiên cứu. Nhưng ông thì không. Ông cứ tung hoành những vốn mà ông có, giống như con tằm không muốn đề sót một sợi tơ nào trong bụng vậy. Ông thật đa tài. Tại lễ trao giải thưởng Hội văn nghệ dân gian Việt Nam ở 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) ngày 30/12/1998, tác phẩm “Văn hóa ẩm thực làng quê Thanh Hóa”của Hoàng Tuấn Phổ đạt giải B (không có giải A). Phát biểu tổng kết đánh giá về giải thưởng năm 1998, Giáo sư Trần Quốc Vượng, Phó chủ tịch Hội đã dành nhiều lời khen cho tác phẩm “Văn hóa ẩm thực làng quê Thanh Hóa” và coi đây là hiện tượng độc đáo. Tác phẩm sẽ thuộc về công chúng. Điều đáng nói là ở mọi lĩnh vực tưởng như ngoài sở trường, sở đoản của ông như chuyện ăn uống của dân xứ Thanh qua lăng kính và ngòi bút Hoàng Tuấn Phổ đã cho thấy nhiều thú vị. Chứng tỏ ở trong ông tiềm ẩn một vốn hiểu biết về Thanh Hóa khá phong phú.
Ông còn tiếp tục khẳng định ngòi bút ở những địa hạt mới lạ, tiếp tục làm việc âm thầm và lặng lẽ như ông đã từng đi qua và công bố. Thời gian đối với ông không thuộc về quá khứ mà là thước đo sự từng trải, sự vươn lên chiếm lĩnh và khám phá những giá trị đích thực của cuộc sống. Ông đã từng vào nghề sư phạm ở Hưng Yên, dạy học ở Mỹ Văn, nhớ đến tha thiết một cô học sinh xinh đẹp, nết na có tên là Nâu. Đã từng cầm cày dạn dày mưa nắng ở quê nhà làng Đoài những năm chưa đến tam thập nhi lập và kết hôn với cô gái nhà bên xinh tươi, chịu khó. Cuộc đời tưởng rồi sẽ yên bề lúa khoai, an phận đường cày, sá bừa. Nào ngờ cái thiên chức “học giả” mà ông mơ ước khi còn dạy học ở Hưng Yên (1955) cứ lớn dần, trỗi dậy thôi thúc ông cầm bút. Ông viết bài phê bình cuốn “Khảo luận Truyện Thúy Kiều” của học giả uyên bác Đào Duy Anh (đăng trên tập san Nghiên cứu Văn học số tháng 10-1960), tiếp theo là loạt bài nghiên cứu về Mỵ Châu-Trọng Thủy, tiểu thuyết Ơ-giê-ni Gơ-răng-đê của Ban-giắc, tìm hiểu nguyên tác Truyện Kiều, Bàn thêm về cuốn giảng văn Đại học sư phạm, góp ý kiến phương pháp phiên âm và chú giải Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, phê bình cuốn Giai cấp công nhân Việt Nam của nhà sử học nổi tiếng Trần Văn Giàu...tập truyện Vũng lầy (NXB Phổ thông 1963) và cuốn Khảo thích truyện Thạch Sanh(NXB Văn học 1961) của ông cũng được hoàn tất sau những buổi cày. Và từ đồng chiêm trũng Văn Đoài, ông được điều về phòng văn hóa huyện. Công việc của ông là chỉ đạo và hướng dẫn phong trào sáng tác văn nghệ huyện Quảng Xương. Mười năm bom đạn giặc Mỹ là mười năm ông thổi bùng ngọn lửa sáng tác văn nghệ trong quần chúng công nông, binh huyện nhà. Và ngọn lửa sáng tạo trong ông cũng thêm điều kiện bùng cao. Một loạt tiểu thuyết, kịch, truyện vừa, truyện ngắn lần lượt được công bố. Khoảng năm 1979-1980 ông được điều về Hội văn Nghệ Thanh Hóa công tác, phụ trách mục lý luận phê bình trên Tạp chí. Ông làm việc say sưa cần mẫn, vừa biên tập vừa góp ý với từng tác giả để nâng cao dần chất lượng bài viết, nhằm mở rộng sự giao lưu thưởng thức của bạn đọc đối với văn nghệ địa phương. Thời gian này ông lần lượt cho xuất bản các tiểu thuyết lịch sử: Miếng võ gia truyền (NXB Kim đồng) Vua Lê Đại Hành, Ngàn nưa, Sóng nước Cổ Khê(NXB Thanh Hóa) đều là những đề tài liên quan đến Thanh Hóa, trong đó, Ngàn Nưa đã được in với số lượng 25.000 bản (*)
Sách của ông xuất bản kể đã nhiều, nhưng số lượng sách chưa công bố và bản thảo còn lại cũng không phải là ít. Sức làm việc của ông thật nể sợ. Bạn đọc cả nước từng biết ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, sử học, dân tộc học...Nhưng chưa thấy ai biết đích xác ông là nhà văn hóa dân gian từ khi nào. Từ những năm 1955-1956, khi còn dạy học ở Mỹ Văn, ông đã tiến hành khảo cứu các truyện dân gian Mỵ Châu-Trọng Thủy, Tấm Cám...Trong đó ông đã chuyển thể thành kịch một số truyện, ví dụ như Trương Viên đã được công diễn tại thị xã Hưng Yên, lấy tiền ủng hộ Angieri kháng chiến chống Pháp. Trở về Thanh Hóa từ 1959 đến nay, ông vẫn tiếp tục sưu tầm, khảo cứu văn học dân gian.
Và vùng đất Thanh Hóa với bề dày lịch sử đã giúp ông thu hái nhiều hoa trái trong vườn dân gian này. Các công trình sưu tầm, khảo cứu công phu truyện Trạng Quỳnh, Xiển Bột, ca dao dân ca, Bà Chúa Liễu...là những đóng góp không nhỏ của ông góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian địa phương, cũng như của cả nước.
Có lần tôi hỏi ông, nghỉ hưu ông sẽ đeo đuổi việc gì. Ông trả lời một cách dứt khoát là làm thuốc. Nghiệp thuốc vốn là nghề gia truyền của cụ kỵ ông, hơn nữa Thanh Hóa cây thuốc lại có sẵn, không làm sao đặng. Thật có ít ai như ông trong đầu bộn bề công việc, dự định. Nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh từng tâm sự “Đêm ngủ nằm mơ tôi  cũng thấy việc”. Phải, những người có tầm vóc đều vậy chăng ? Đọc “Văn hóa ẩm thực làng quê Thanh Hóa”, tôi thấy ông rất có lý khi chỉ ra cái hữu dụng trong cái vô dụng, cái giá trị trong cái tầm thường...Cũng chỉ là củ chuối, củ dong, tàu khoai...vậy thôi, mà qua bàn tay chế biến của con người, các món ăn trở nên có hồn, lung linh hẳn lên, giá trị hẳn lên. Và sau mỗi món ăn, bữa ăn bình dị và ấm áp ấy ta thấy bừng tỏa một bản sắc, một tình cảm của làng quê xứ Thanh trong sáng và thuần khiết.
                                                            20-12-1998
                                                                Đ.H.P
                                       (Báo Văn  hóa thông tin Thanh Hóa)

(*) Chưa tính đến những công trình khác như: Thắng Cảnh Sầm Sơn, Núi Rồng sông Mã, v.v...