Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

“Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của Lê Xuân Đức ?



         
Cuốn sách bị Lê Xuân Đức đạo văn
Hoàng Tuấn Công


Phần IV

Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm

Chuyện “đạo văn” của Lê Xuân Đức đã quá rõ. Nhưng, cái hay, cái đúng Lê Xuân Đức đạo đã đành. Đằng này, những sai sót nhầm lẫn, thiếu chính xác của người ta,   Lê Xuân Đức cũng cứ “xài” liền liền.
1.Bài Bạn tù họ Mạc. Hai câu:“Xa đại pháo” tài chân vĩ đại, Tại tù nhưng tưởng ngật nhân sâm.
Lê Xuân Đức giảng giải: “Xa đại pháo là một phương ngữ ở Quảng Đông (chứ không phải như chú thích của Viện văn họctrong bản dịch năm 1983) có nghĩa là một tấc lên trời, huênh hoang khoác lác. Phương ngữ này cùng một nghĩa với thành ngữ ở Quảng Đông “Đại suy đại lôi” nghĩa là bốc phét quá chừng, quá mức”.
Xin trao đổi với Lê Xuân Đức mấy điểm sau đây:

a/Cái ý “Xa đại pháo là phương ngữ Quảng Đông”chẳng qua Lê Xuân Đức “chôm” của GS Hoàng Tranh trong “Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh-chú thích-thư pháp, (chú thích tr.128). GS Hoàng Tranh viết: "phương ngôn", ông đổi thành "phương ngữ". Mặt khác, Lê Xuân Đức nói "phương ngữ này cùng một nghĩa với thành ngữ ở Quảng Đông" là chẳng hiểu hai khái niệm phương ngữ và thành ngữ nó giống nhau, khác nhau ra sao. Hơn nữa, Viện văn học chú thích sai như thế nào, sao ông không nói rõ mà lại lập lờ như vậy ? Bởi, cái ý “Xa đại pháo” nghĩa là “huênh hoang, khoác lác” đã được Nam Trân hiểu đúng và dịch là “một tấc lên mây” rồi, Lê Xuân Đức còn “phát hiện” làm gì nữa ? (Một tấc lên mây” ghê gớm thật, Ngồi tù mà vẫn ước nhân sâm-Nam Trân dịch).
b.Câu “Đại suyđại lôi” không biết Lê Xuân Đức chép ở đâu, nhưng đã chép sai. Vì viết đúng là “Đại xuy đại lôi” (xuy chữ X) chứ không phải “Đại suy đại lôi” (suy chữ S). Chữ “xuy” này không có nghĩa là “suy” như Lê Xuân Đức “suy diễn” mà có nghĩa là thổi (xuy trong xuy địch: Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy-Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay-Bài Hoàng hôn-"Ngục trung nhật ký"-Nam Trân dịch).
Câu“Đại xuy đại lôi” (xuy = thổi; lôi =đánh) có nghĩa là cùng lúc tấu các loại nhạc cụ lên. Câu này vốn là một đoạn trong lời thoại vở kịch Tứ đại vương ca vũ Lệ Xuân đường” (四大王歌舞麗春堂, Bốn đại vương ca múa ở nhà Lệ Xuân), còn gọi là vở Lệ Xuân đường của nhà viết kịch Vương Thực Phủ đời Nguyên:“Ban cho anh hoàng kim ngàn lượng, rượu thơm trăm bình, tại Lệ Xuân đường cùng tấu tất cả nhạc khí lên (đại xuy đại lôi-大吹大擂) tổ chức tiệc vui thật linh đình”. (赐你黄金千两,香酒百瓶, 就在丽春堂大吹大擂, 做一个喜庆的筵席).
Trong lời thoại trên: ngàn lạng vàng, trăm bình rượi thơm, tấu tất cả các nhạc khí lên, đều mang vẻ rất khoa trương. Và “đại xuy, đại lôi”được "lẩy" ra để dùng như một thành ngữ chỉ sự khoe khoang quá mức. Như vậy, câu thành ngữ “Đại xuy đại lôi” vốn là một “tích” trong vở kịch, đâu phải là “một thành ngữ ở Quảng Đông” như Lê Xuân Đức nói.
Nói thêm: Lê Xuân Đức từng có bài viết “Đi nhiều để hiểu sâu hơn”trên Báo Công anh nhân dân và BáoThanh Hóa. Ông viết: “Đặc biệt, cùng với việc tìm hiểu một số phương ngữ, thành ngữ Quảng Tây (Trung Quốc), một số điển cố lịch sử và thơ ca cổ Trung Quốc mà Bác sử dụng và tập cổ trong "Nhật ký trong tù", tôi đã có hai chuyến điền dã ở Quảng Tây, là nơi Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm trước đây. Chuyến thứ nhất, lần theo con đường tù đày của Bác qua 13 huyện tỉnh Quảng Tây: Tĩnh Tây, Thiên Bảo (nay là Đức Bảo), Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính (nay là Phù Tuy), Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Lai Tân (nay là khu Hưng Tân, trực thuộc thành phố Lai Tân), Liễu Châu, Quế Lâm và một chuyến trở lại một số địa điểm cần thiết để xác định và hiểu rõ hơn những điều cần tìm hiểu”.
Theo đó, Lê Xuân Đức từng sang Quảng Tây-Trung Quốc “điền dã”, và đã đi tới hai lần. Lịch trình đi của Lê Xuân Đức giống hệt cách đặt câu trong "chú thích" của GS Hoàng Tranh. Và rốt cuộc ông đã “cầm nhầm” sách “Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh-chú thích-thư pháp”của GS Hoàng Tranh rồi cứ ngỡ đây là sổ tay “điền dã” của mình ! Riêng câu “Đại suy đại lôi” hiện chúng tôi chưa biết Lê Xuân Đức đã “điền dã” được ở trong sách của ai hay "nghe mùi xôi nếp", nhưng vì không hiểu cặn kẽ cụ thể nó là gì nên đã chép sai và gán cho nó cái xuất xứ “thành ngữ ở Quảng Đông” vậy đó.
2.Bài Bị hạn chế:
Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thời đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thời lung bất khai.
Nam Trân dịch:
Đau khổ chi bằng mất tự do,
Đến buồn đi ỉa cũng không cho;
Cửa tù khi mở, không đau bụng,
Đau bụng thì không mở cửa tù.
Bài này GS Hoàng Tranh chú thích: “Hai chữ xuất cung (出恭), tiếng Quảng Đông có nghĩa là đi ngoài”. Thế là Lê Xuân Đức bám ngay vào đây để “bình”: “Những từ Hán-Việt nôm na mách qué, theo quan niệm truyền thống, đặc biệt thơ cổ là tối kỵ, uế tạp, nhưng với Bác, giản dị đã trở thành bản lĩnh...” Thế nhưng, Lê Xuân Đức chỉ quen nói theo, "chôm đồ" của GS Hoàng Tranh mà không tự tìm hiểu xem nó là đồ thật hay đồ giả.  Tại sao “xuất cung” 出恭 (chữ cung trong cung kính) lại được đem dùng để nói một việc chẳng ăn nhập gì là "đi ị" ? Liệu có đúng đây là “tiếng Quảng Đông” theo kiểu "nôm na mách qué" không ? Lê Xuân Đức có điều kiện sang Trung Quốc “điền dã” sao không tra cứu từ điển Tàu cẩn thận rồi hẵng viết, thay vì phỏng đoán, "chôm" ý tưởng sai của người khác ?
Từ “xuất cung” vốn sinh ra ở chốn trường thi (từ đời Nguyên bên Tàu). Vào trường thi, sĩ tử làm bài kéo dài tới cả ngày trời nên phải đem theo thức ăn, nước uống tự phục vụ tại chỗ. Riêng việc đại tiện, tiểu tiện, để tránh thí sinh tự ý đi lại, rời vị trí ngồi, gian lận tài liệu, trường thi quy định phải “xuất cung, nhập kính”. Tức ra, vào đều phải có phép tắc nghiêm chỉnh. Muốn đi đái, đi ỉa, trước tiên sĩ tử phải xin phép và lĩnh tấm thẻ có chữ “xuất cung” mới được đi nhà xí. Do vậy, người ta gọi đi nhà xí là “xuất cung”.Lại gọi đại tiện là “xuất đại cung”,tiểu tiện là “xuất tiểu cung”. (Nguyên đại khởi: Khoa cử khảo trường trung thiết hữu: xuất cung, nhập kính bài, dĩ phòng sĩ tử đàn ly tọa vị, sĩ tử nhập xí tu tiên lĩnh thử bài, nhân xưng nhập xí vi xuất cung. Tịnh vị đại tiện vi xuất đại cung, tiểu tiện vị xuất tiểu cung-Nguyên văn chữ Hán trong từ điển Tàu, HTC phiên âm,dịch nghĩa).
Như thế, “xuất cung” không phải là “tiếng Quảng Đông” ? Và dĩ nhiên Bác Hồ cũng không hề “nôm na, mách qué” như Lê Xuân Đức nghĩ. Bác nói chữ đó !
Nói thêm: Trong nguyên tác chữ Hán “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân chương 29, đoạn nói Trư Bát Giới khoe khoang, mắng nhiếc Huỳnh Bào rồi cùng Sa Tăng nhảy vào giao chiến. Đánh tới 90 hiệp, Bát Giới đã mệt lử, Sa Tăng cũng hết hơi mà không thắng nổi. Có nguy cơ bại trận, Bát Giới mới nói lừa Sa Tăng: “Hiền đệ cố sức cầm cự tiếp, đợi ta "đi ngoài" cái đã, xong sẽ quay lại ngay”. (Sa Tăng ! Nhĩ thả thượng tiền lai, dữ tha đấu trước, Lão Trư xuất cung lai ( 沙僧,你且上前来与他斗着,老猪 出恭来)Sa Tăng tin lời Bát Giới, đem hết sức ra đánh. Chẳng ngờ Bát Giới chạy xa, tìm chỗ mát nằm ngáy khò khò. Còn Sa Tăng đợi Bát Giới hết hơi, một mình đánh không lại, bị Huỳnh Bào bắt sống trói gô lại.
Việt Nam cũng có từ “đi ngoài” để chỉ “đại tiện”.Rất có thể từ này cũng xuất phát từ cách nói “xin ra ngoài” của sĩ tử trường thi xưa. Chúng tôi còn nhớ hồi nhỏ đi học, ban đầu đứa nào đứa nấy cứ bô bô: “Thưa cô, cho em xin ra ngoài đi ỉa”. Thầy cô mới dạy cho phép lịch sự: “Từ nay, em nào “muốn vậy”, phải nói rằng “Thưa cô, cho em ra ngoài có việc” nhớ không ? Xin phép “ra ngoài có việc”bao giờ cũng dễ dàng và được “phóng thích” nhanh nhất. Thế là đôi khi chẳng hề có nhu cầu "xuất cung", hay “có việc” gì nhưng có đứa ngồi chán trong lớp, cũng vờ đứng dậy nhăn nhó:“Thưa cô cho em ra ngoài có việc”.
Đáng chú ý, việc “thó” phải “đồ giả” của Lê Xuân Đức không chỉ dừng lại ở một vài trường hợp.
3.Bài “Ghẻ lở”. Hai câu:
Mãn thân hồng, lục như xuyên cẩm,
Thành nhật lao tao tự cổ cầm;
(Khắp người xanh đỏ như hoa gấm,
Suốt ngày gãi sột soạt tựa gảy đàn)
-GS Hoàng Tranh (sách đã dẫn tr.193) chú thích:
“Hai chữ “thành nhật” (成日) là tiếng địa phương của vùng Quảng Đông. Những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã từng hoạt động cách mạng ở vùng Quảng Châu và Hồng Kông tiếp xúc với tiếng Quảng Đông, nên trong các câu thơ thường xuất hiện một số từ ngữ Quảng Đông. Ví dụ: xuyên cẩm (穿錦) - mặc áo gấm, “cổ cầm” (鼓琴)-gảy đàn, để so sánh với cái ghẻ lở trên thân thể người bị giam trong tù”.
-Tài liệu “điền dã” và “lời bình” của Lê Xuân Đức:
“Hai chữ “thành nhật” là tiếng địa phương vùng Quảng Đông, Bác đã từng hoạt động cách mạng ở vùng Quảng Đông những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, tiếp xúc nhiều và dùng tiếng Quảng Đông, nên trong các câu thơ thường xuất hiện một số từ ngữ Quảng Đông như trong bài nà: Thành nhật: suốt ngày, xuyên cẩm: mặc áo gấm, cổ cầm: gảy đàn, là cách nói hình ảnh chỉ cái ghẻ và gãi ghẻ trên thân thể người bị giam trong tù”.
Như vậy, Lê Xuân Đức tiếp tục “đạo” chú thích của GS Hoàng Tranh làm “tài liệu điền dã” của mình. Nhưng GS Hoàng Tranh là người Lưỡng Quảng (cụ thể Quảng Châu-Quảng Đông-Trung Quốc). Có lẽ vì yêu tiếng mẹ đẻ của mình nên nhiều từ, ngữ GS Hoàng Tranh cho rằng nó là phương ngữ độc đáo của riêng vùng Quảng Đông. Thế nhưng, Lê Xuân Đức là người Việt Nam, lại đang nghiên cứu về một tác phẩm, tuy viết bằng chữ Hán nhưng tác giả của nó cũng là một người Việt Nam: Nhà thơ - Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sao lại nói theo, lại “đạo” nguyên xi cái ý chủ quan của một người Quảng Đông-Trung Quốc ?
-Từ “thành nhật” từ điển Tàu có mở ngoặc là phương(方) tức phương ngữ. Tuy nhiên, các từ “xuyên cẩm”,“cổ cầm” không được xếp vào phương ngữ, càng không phải là phương ngữ của Quảng Đông.
1.Từ “xuyên cẩm”: Tiếng phổ thông Trung Quốc, “xuyên” được dùng để tạo nên các kết hợp từ như: mặc quần áo, đi tất, đi găng tay, đi dép,v.v...
-Từ điển Hán Việt (Phan Văn Các chủ biên): “Xuyên: Mặc/đi giày, tất, găng tay. xuyên hài 穿鞋 (đi dép); xuyên y phục穿衣服(mặc quần áo)
-Từ điển Hán Việt-Đào Duy Anh: Xuyên hiếu 穿孝 (mặc áo tang, để tang). Xuyên y 穿衣-mặc áo vào mình.
-Tự điển Hán-Việt (Trần Văn Chánh): Xuyên: Mặc, mang, đi: 穿衣服 Mặc quần áo; 穿鞋 Đi giày.
-Từ điển Việt Hán (Đinh Gia Khánh hiệu đính): “Mặc: 穿(衣) mặc quần áo穿衣服 (xuyên y phục)
-Tục ngữ Trung Quốc: Xuyên y, đới mạo, các nhân sở hiếu 穿衣,戴帽,各人所孝 (Mặc áo đội mũ, mỗi người một sở thích); Xuyên hắc y, bão hắc trụ 穿黑衣,抱黑柱(Mặc áo đen, ôm cột đen). Ngoài từ “xuyên” để chỉ mặc quần áo, đi dày, đi tất...không thấy từ điển Tàu và từ điển Hán-Việt; Việt-Hán của ta ghi nhận từ nào khác đồng nghĩa.
Như vậy, cái áo gấm thêu dệt nhiều màu, Hồ Chí Minh dùng “xuyên cẩm” 穿錦 (xuyên=mặc; cẩm= áo gấm), với nghĩa là mặc áo gấm, để chỉ màu da bị ghẻ lở, lý do gì để xếp vào “phương ngữ Quảng Đông” ?
2.Từ “cổ cầm”: Đây cũng là từ phổ thông, bởi đơn giản “cổ” nghĩa là đánh, “cầm” là đàn cầm.
-Từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh) 鼓琴 “Cổ cầm: đánh đàn cầm”.
-Hán Việt tự điển (Thiều Chửu): Cổ  鼓 ①Cái trống.② Ðánh trống. ③ Gảy, khua. ④Quạt lên, cổ động. ⑤Trống canh.
-Từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh): Cổ 鼓 ①Trống: 銅鼓 Trống đồng; 更鼓 Trống canh; ② (văn) Đánh trống; ③Đánh, gảy, khua, làm cho kêu, vỗ: cổ cầm鼓琴Đánh đàn.
“Cổ” là đánh, gảy, khua nhạc cụ; “cầm” là đàn cầm, loại đàn có 7 dây ngày xưa, khi đánh đàn phải dùng mười ngón tay để gẩy. Bác Hồ mượn hình ảnh đó để chỉ đùa động tác gãi ghẻ, lý do gì Lê Xuân Đức xếp vào “phương ngữ Quảng Đông” ?
Vậy, bây giờ một trong hai tội: đạo văn và viết sai, Lê Xuân Đức chọn tội nào ? Nếu Lê Xuân Đức không muốn nhận mình viết sai, chỉ còn một cách là thú nhận tội đạo văn, đạo ý tưởng của GS Hoàng Tranh mà thôi !
Văn chương Lê Xuân Đức sao chép, hoặc kết quả của những chuyến đi “điền dã” là như vậy. Còn những "nghiên cứu sáng tạo, thẩm bình” của riêng ông thì sao ?
1.Bài Buồn bực. Hai câu:
Hoàn cầu chiến hỏa thước thanh thiên,
Tráng sĩ tương tranh phó trận tiền.
-Chữ “hoàn” Lê Xuân Đức giải nghĩa: “Hoàn cầu (hoàn đầy đủ; cầu, quả tròn, trái đất)”. Sai nghiêm trọng ! Bởi chữ “hoàn” 環 (hoàn có bộ ngọc) trong “Hoàn cầu” nghĩa khắp cả, Hoàn cầu là khắp trái đất. Còn chữ “hoàn” với nghĩa “đầy đủ” như Lê Xuân Đức giảng giải viết là 完 (chữ hoàn này có bộ miên - không có trong nguyên tác bài Buồn bực của Hồ Chí Minh) có nghĩa: vẹn, đầy đủ, xong cả, tốt..., được dùng trong các kết hợp từ như: hoàn hảo, hoàn công,v.v...
-Từ “Tráng sĩ” Lê Xuân Đức giảng:“Tráng sĩ (tráng: mạnh mẽ; sĩ: người có học) là người có sức mạnh, có ý chí, có tri thức”.Lê Xuân Đức lại nói sai rồi ! Vậy dũng sĩ, liệt sĩ thì sao ? Chữ “sĩ” ở đây chẳng nhẽ cũng là “người có học, có tri thức” như Lê Xuân Đức giảng giải ? 
Chữ 士 trong giáp cốt văn và kim văn vốn có hình vẽ cái búa, tượng trưng cho hình quan, và ban đầu có nghĩa là hình quan coi ngục, sau mới thêm nhiều nghĩa khác. Tuy cũng viết là “sĩ” 士, nhưng “tráng sĩ” không được hiểu với nghĩa: Người trí thức trong xã hội cũ, kẻ sĩ, học trò: 學士 Học sĩ; 士農工商  Sĩ nông công thương, mà là cách gọi tôn xưng người khác.
-Hán Việt từ điển (Phan Văn Các): “Sĩ士 (cách gọi ca ngợi người khác) Liệt sĩ, dũng sĩ, nữ sĩ”
-Từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh): “Sĩ士Người, kẻ (cách diễn đạt tỏ ý lịch sự và tôn trọng đối với hạng người nào đó): 志士 Chí sĩ; 壯士 Tráng sĩ; 烈士 Liệt sĩ...”.
Như vậy cái sai của Lê Xuân Đức xuất phát từ chỗ không phân biệt được chữ Hán đồng âm, đồng tự nhưng đa nghĩa.
2. Bài Đáp xe lửa đi Lai Tân:
Câu “Kim thiên đắc tháp hỏa xa hành” (Hôm nay được đáp xe lửa). Lê Xuân Đức bình và giải nghĩa: “Chữ tháp của Hán tự có nghĩa là gắn vào, cắm vào, trong văn cảnh bài thơ này có nghĩa là đáp, từ mà những người quyền quý, giàu có thường dùng để thể hiện sự sang trọng, chứ dân chúng chỉ nói là đi (xe lửa).
-Chúng tối rất ngạc nhiên. Không hiểu căn cứ vào đâu, Lê Xuân Đức nói rằng: chữ “tháp” có nghĩa là “gắn vào, cắm vào” ? Hóa ra, Lê Xuân Đức đã nhầm chữ "tháp" 搭(đáp) với chữ “sáp” viết là 插 có một âm đọc là “tháp”. Thưa Nhà nghiên cứu Lê Xuân Đức, chữ "tháp" (sáp) như ông nói viết khác hẳn chữ “tháp” 搭 (đáp) trong nguyên tác thơ Hồ Chí Minh. 
Chữ “tháp” 插 (sáp) mà Lê Xuân Đức nhầm lẫn được Trần Văn Chánh giải nghĩa: “Tháp 插 ① Cắm, cấy, giâm, trồng, cho vào, thọc vào, cài, gài, xen, gắn, xen thêm, gắn thêm, giắt: 把花插在瓶子裡 Cắm hoa vào lọ; 把手插在口袋裡 Cho tay vào túi, thọc tay vào túi”.
-Chữ “tháp”搭có một âm đọc là “đáp”, có nghĩa là đi tàu, đi xe chứ không phải “trong văn cảnh bài thơ này có nghĩa là đáp” như Lê Xuân Đức nói.
-Chữ “đáp” 搭 đồng nghĩa với chữ “tọa” 坐 ,chứ chẳng phải “từ mà những người quyền quý, giàu có thường dùng để thể hiện sự sang trọng, chứ dân chúng chỉ nói là đi (xe lửa)” như Lê Xuân Đức giảng giải:
+Hán Việt từ điển (Thiểu Chửu) “Đáp: Phụ vào, đáp đi, như đáp xa 搭車đạp xe đi, đáp thuyền搭船đáp thuyền đi, v.v.
+Từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh): Đáp 搭, đi, ngồi: 搭飛機 Đáp máy bay; 搭長途汽車 Đi xe ca, đi xe đò; 貨船不搭客人 Tàu (thuyền) chở hàng không chở hành khách”.
-Lê Xuân Đức nói: Ở Trung Quốc“dân chúng chỉ nói là đi (xe lửa)”. Ông quên mất rằng mình đang bình thơ chữ Hán, tìm hiểu nghĩa chữ Hán chứ không phải tiếng Việt. Thưa ông, người Trung Quốc (Hán ngữ) không nói đi tàu, đi xe như người Việt Nam, mà ngoài từ “đáp”, họ thường dùng từ “tọa” 坐 nghĩa là ngồi: tọa hỏa xa-đi xe lửa; tọa khí xa-đi ô-tô, tọa phi cơ-đi máy bay và không phân biệt ‘đẳng cấp” như ông nghĩ. Từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh) đồng nghĩa từ “tọa” với từ “đáp”: “Tọa ② Đi (xe), đáp: 坐汽車 Tọa khí xa -Đi xe hơi; 坐飛機去河内 Tọa phi cơ khứ Hà Nội-Đáp máy bay đi Hà Nội”
Ngay từ đi tàu, đi ô tô của người Việt Nam cũng là cách gọi tắt của đi (bằng) tàu hỏa, đi (bằng) ô tô. Trước đây, từ “đáp” ô tô, “đáp” tàu hỏa cũng từng được người Việt Nam sử dụng với nghĩa tương đương với từ “đi” (tàu) mà không phân biệt người sang, kẻ hèn. Việt Nam tự điển (Hội khai trí tiến đức): "Đáp: Nói tàu thuyền đáp lại để đón thêm khách: Tàu đáp khách ở dọc đường; Khách xuống thuyền để đáp tàu".
Trong bài “Bình và nghĩ về thơ Hồ Chí Minh”của GS Phong Lê (tài liệu phô tô gồm toàn các GS của ta và của Tàu ngợi khen Lê Xuân Đức, do chính Lê Xuân Đức phô tô gửi tặng nhiều người trong dịp về nghỉ 30/4-1/5 tại Thanh Hóa) có viết: “Ông (tức Lê Xuân Đức-HTC chú thích) thuộc trong số không nhiều người có thâm niên theo đuổi khá lâu và khá sâu trong định hướng được lựa chọn, có những đóng góp đáng kể”.
Quả đúng là riêng “thâm niên” 40 năm nghiên cứu “thẩm bình” thơ của Lê Xuân Đức đã nhiều quá nửa số năm hưởng dương của Nam Trân tiên sinh rồi. Mà đã “có thâm niên” nghiễm nhiên được lên “lão làng”. Cộng với tài đạo văn, xào xáo, GS Phong Lê đã lý giải hộ chúng tôi, tại sao Lê Xuân Đức trở thành Chuyên gia số 1 về thơ Bác. Thực tế những sai lầm trong sách Nhật ký trong tù và lời bình (cuốn sách mới nhất của Lê Xuân Đức xuất bản đúng dịp 40 năm nghiên cứu thơ Bác) đã nói lên đầy đủ ở hai chữ “theo đuổi”: Lê Xuân Đức chưa bao giờ tiếp cận được thơ Bác ! Ngược lại, đến chặng cuối Lê Xuân Đức càng thêm đuối sức, phải ăn cắp sức lực, trí tuệ của người khác như bạn đọc đã thấy.
Rốt cuộc, sau một thời gian thoát khỏi "ao văn bình giảng" để mong vẫy vùng, ngụp lặn, (dù đã gian dối sử dụng "phao") nhưng Lê Xuân Đức vẫn bị chìm nghỉm trong “bể văn chương” mênh mông chữ nghĩa !
Cuối cùng, chúng tôi tự hỏi: Không biết có nên để mắt đến 9 tác phẩm viết về thơ Bác của Lê Xuân Đức hay không ? Đặc biệt là cuốn sách được trao giải xuất sắc của Hội nhà văn Việt Nam "Đi tìm xuất xứ thơ Hồ Chí Minh" trong cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí viết về chủ đề “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" của Lê Xuân Đức. 
Có lẽ câu chuyện về Lê Xuân Đức sẽ chưa dừng lại ở đây !

                                                                                     HTC

                                                               Tốc ký tại Quán trọ Quang Minh
                                                                     Sầm Sơn, dịp nghỉ 30/4-1/5

         


BẮT ẾCH



                    Hoàng Tuấn Phổ

 Ếch sống trong hang sâu. Người ta quan sát thấy dấu ngón chân ếch in ở cửa hang mà đoán biết trong hang có ếch trú ẩn. Nếu cửa hang hẹp, phải đào cho rộng. Loại thuổng dùng đào hang ếch, cán nhỏ, ngắn, mặt lưỡi cong cong lòng mo, đầu lưỡi mỏng, rộng chừng 3cm. Ếch nghe động lùi vào sâu hơn, thu mình nằm ép tận cuối hang. Nếu thấy rõ ếch, người ta thò tay vào nắm “thắt lưng” ếch lôi ra. Phải đề phòng rắn độc chui vào hang ăn thịt ếch rồi cuộn tròn nằm nghỉ luôn trong đó. Người ta dùng câu thay cho tay. Đó là một thứ móc, lưỡi giống câu có ngạnh, cắm vào cán dài chừng 50cm, to bằng ngón tay cái. Người bắt ếch cầm móc câu thọc thẳng vào hang kéo con ếch ra ngoài.



Giống ếch trơn và tài nhảy. Chỗ yếu nhất của ếch là thắt lưng của nó. Vì thế phải nắm ếch nơi thắt lưng. Nhốt ếch vào giỏ là tốt nhất, để dễ bỏ vào, bắt ra, nhưng cái tonphải buộc vững vàng cẩn thận. Khớp gối của ếch rất dẻo, dù bẻ thế nào, nó vẫn cứ nhảy được như thường. Chỉ có một cách buộc dây chỗ thắt lưng thì ếch chịu cứng, con nọ nối đè lên con kia thành chuỗi dài để đem đi chợ bán, gọi là xâu ếch gồm từ 5 đến 10 con.
Thời trước, diện tích cấy lúa chiêm ít, cấy mùa nhiều. “Tháng tư cày vỡ ruộng ra”, một cơn mưa rào trút xuống, tối đến, ếch từ trong hang nhảy  ra, đực cái tìm nhau giao hoan. Phải là mưa rào, mưa càng to, ếch ra càng nhiều. Mưa nhỏ lai rai, “tích tiểu thành đại”, nước ngập rãnh cày, ếch ra thưa thớt, tựa hồ dạo chơi, không ai tính chuyện bắt ếch, vì hễ thấy bóng người, nó phốc một cái mất tăm. Gặp trận mưa to đầu mùa sau một thời gian nắng hạn, ếch kêu “ộp ộp”, inh ỏi, râm ran khắp đồng gần, đồng xa. Người cẩn thận chuẩn bị đóm (đuốc) từ những ngày nắng. Đóm tốt nhất, cháy nỏ, sáng là đóm nứa. Người không chuẩn bị kịp, thì manh chiếu rách cuộn lại, tàu kè khô buộc chặt làm đóm. Đóm chiếu than nhiều, ít lửa, khói mù. Đóm kè lúc cháy bùng, lúc mờ tối. Thời xe đạp phổ biến, lốp cao su hỏng đốt cháy rất sáng nhưng khói hơi độc và mùi khét lẹt. Dùng những thứ đóm đuốc này chỉ là bất đắc dĩ.
Đêm đầu mùa mưa rào, đuốc sáng đầy đồng như có trăm, ngàn ngôi sao sa. Những chàng ếch si tình lắng nghe tiếng gọi âu yếm thiết tha của phái đẹp, say mê đến nỗi cứ ngồi ngây ra đó. Những cặp trai gái thoạt gặp nhau đã chụm đầu hoặc ôm lưng nhau trút “bầu tâm sự”. Người bắt ếch cứ việc tay trái cầm đuốc, tay phải vươn ra chộp lấy từng con bỏ vào cái giỏ buộc ton chắc chắn đeo bên hông. Những đôi ếch ý hợp tâm đầu vào cuộc giao hoan, có lẽ trời sập cũng không biết! Người ta bước nhanh tới,chộp lấy cả hai, dễ như bỡn! ếch cái nhiều con to bằng nắm tay, gọi là ếch bà. ếch đực thường nhỏ hơn, gọi là ếch ông. Người bắt ếch chưa thành thạo, mang theo cái nơm nhỏ để úp ếch như úp cá, chậm nhưng chắc ăn.
Sau trận mưa rào đầu tiên, nếu trời còn mưa tiếp, đêm đến ếch vẫn ra đồng, tuy ít hơn, và đặc biệt rất khó bắt. Người ta gọi lý do ấy là “dã nước”. Những chàng ếch đã bớt si tình, ít nhiều trở nên tỉnh táo, hoặc khát vọng cặp đôi đã được thỏa mãn, các cô ếch lại cảnh giác với ánh sáng, bóng người, bước chân. Nghe tiếng ếch kêu “ộp ộp” ngoài đồng dưới làn mưa lưa thưa lắc rắc, ai đó có đi bắt ếch hẳn chỉ hy vọng: “Trăm  bó đuốc cũng bắt được con ếch” như lời tục ngữ.
Thị giác ếch kém, nghĩa là không được tinh tường so với thính giác. Ếch hay kiếm ăn trong đám cỏ bờ ao nơi râm mát. Nó ăn côn trùng, sâu bọ nói chung, thích nhảy lên vồ mồi là những chú bướm, cô ngài bay nhởn nhơ, vui đùa trên ngọn cỏ. Người ta buộc những thứ hoa giống ngài, bướm, chuồn chuồn,... vào câu để đánh lừa ếch. Nên có câu “ếch chồm hoa bấn”!
Còn một cách bắt ếch đơn giản là hai người túm hai bên vó ghé sát vào bờ ao, một người dùng gậy khua khua đám cỏ, khiến ếch sợ nhảy xuống ao, sa ngay vào vó. Cách bắt ếch này thường dùng vào mùa hè, ếch hay tìm mồi trong đám cỏ bờ ao, hễ nghe động liền nhảy “tõm” xuống nước tẩu thoát.



“Nhật ký trong tù và lời bình” Hay trò đùa của Nhà phê bình Lê Xuân Đức ?

                                                                 

Hoàng Tuấn Công

Phần III


     Không có chữ dạy người biết chữ

          Ở phần I và phần II bài viết, bạn đọc đã được biết đến chuyên gia số 1 về thơ Bác, Lê Xuân Đức chữ tác đánh chữ tộ, không chỉ phá hỏng nguyên tác "Nhật ký trong tù", lại còn "vào" Nhà xuất bản chính trị quốc giađể "đạo" nội dung cuốn sách "Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh-chú thích-thư pháp" của GS Hoàng Tranh (Trung Quốc). Chuyện động trời tới mức, chúng tôi tưởng đó là trò đùa. Nhưng hôm nay, khi đặt bút viết đến phần "không biết chữ dạy người biết chữ" chúng tôi thấy Lê Xuân Đức không hề đùa tí nào. Hay nói đúng hơn, Lê Xuân Đức đã "Lộng giả thành chân", lên tiếng dạy bảo người khác để nghiễm nhiên trở thành bậc thầy thiên hạ.
          Vậy Lê Xuân Đức dạy ai ?


1.Bài Cấm hút thuốc. Hai câu:
 Yên cấm thử gian hẩn lệ hại,
Nhĩ yên kiểu nhập tha yên bao;
Nam Trân dịch nghĩa:
Ở đây lệnh cấm hút thuốc lá rất gắt gao,
Thuốc của anh phải nộp vào túi thuốc của nó
Và dịch thơ:
Hút thuốc nơi này cấm gắt gao,
Thuốc anh nó tịch bỏ vào bao.
          Tưởng chẳng có gì đúng và hợp lý hơn nữa. Thế nhưng Lê Xuân Đức lại bức xúc: "Trước đây, câu đầu bài thơ được dịch là “Hút thuốc nơi này cấm gắt gao”, xin được lưu ý nguyên bản câu thơ này là "Yên cấm thử gian hẩn lệ hại"; lệ hại có nghĩa là lợi hại, hẩn lệ hại là rất lợi hại. Như vậy, nghĩa và ý câu thơ khác hoàn toàn với gắt gao. Rất lợi hại ngầm ý châm biếm cái lệnh cấm vô lý ấy".
          Nhưng Lê Xuân Đức biết một mà không biết hai. "Lệ hại" 厲害trong nguyên tác "Ngục trung nhật ký" dùng với nghĩa là "ghê gớm", "khủng khiếp"chứ không phải là lợi hại theo cái nghĩa ông phỏng đoán.
- Hán Việt tự điển (Thiều Chửu) giải nghĩa: "Lệ 厲: Mạnh dữ. Như tái tiếp tái lệ 再接再厲 lại đánh lại càng hăng dữ. ⑤ Ác, bạo ngược".
-Từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh): "Lệ: Mài, Dữ tợn, Nghiêm khắc, ác".
-Từ điển Hán Việt (Phan Văn Các chủ biên):
+ Lệ: nghiêm ngặt; lệ hànhthi hành nghiêm ngặt. 2, Nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm nghị.
+ Lệ hại: 厲害 ghê gớm/lợi hại/kịch liệt/hung dữ.
Lưu ý, chữ “lợi hại” mà từ điển của Phan Văn Các dùng để miêu tả từ “lệ hại” cũng được hiểu với nghĩa là ghê gớm, đáng sợ. Ví dụ: vũ khí lợi hại (chứ không phải lợi hại là mối quan hệ so sánh giữa cái lợi và cái hại như Lê Xuân Đức nghĩ). Vậy Nam Trân dịch: Yên cấm thử gian hẩn lệ hại là “Hút thuốc nơi này cấm gắt gao” có gì là “khác hoàn toàn” với nguyên tác như Lê Xuân Đức phản đối ?
2. Bài Đường đời hiểm trở.
 Câu:"Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng", Nam Trân dịch: "Núi cao gặp hổ mà vô sự" vừa hay vừa bám sát nguyên tác. Thế nhưng Lê Xuân Đức lại không vừa ý: "Nếu dịch vô dạng là vô sự thì chưa chính xác. Trước tai họa gặp hổ mà nói là vô sự, gặp nguy hiểm rồi đấy chứ. Có nhà nghiên cứu cho biết vô dạng là lời người xưa hỏi thăm người gặp nguy hiểm nhưng được yên lành, không có chuyện gì xảy ra, nên vô dạng có nghĩa là bình yên, yên ổn và đề nghị dịch là: Non cao gặp hổ mà yên ổn".
Chẳng có “nhà nghiên cứu” nào đâu. Lê Xuân Đức hãy giở Hán Việt tự điển của Thiều Chửu và Trần Văn Chánh ra mà xem nghĩa của chữ dạng恙: ① Bệnh xoàng. ② Việc gì, như hỏi thăm ai thì nói vô dạng 無恙 không việc gì chứ ? 3. An nhiên vô dạng: 安然無恙 Bình yên không có việc gì.
 Lê Xuân Đức lại giở thêm Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “Vô dạng 無恙: Không có tật bệnh,lo lắng gì-không có hề gì, không nguy hiểm gì”.
Vô sự tức không có chuyện gì xảy. Mà không có chuyện gì xảy ra nghĩa là yên ổn, bình an chứ còn gì nữa ?
Riêng chuyện Lê Xuân Đức thắc mắc: "Trước tai họa gặp hổ mà nói là vô sự, gặp nguy hiểm rồi đấy chứ". Xin giải thích thế này: Bác Hồ viết "Núi cao gặp hổ mà vô sự, Đường phẳng gặp người bị tống lao" là muốn tạo ra hiệu quả so sánh, đối lập giữa hổ và người (cụ thể là chính quyền bắt giam Bác) để nói "chính sự hà khắc còn đáng sợ hơn hổ dữ" đó.
Vì không hiểu ý tứ sâu xa trong câu thơ của Bác nên Lê Xuân Đức mới sửa lời thơ dịch của Nam Trân: “Núi cao gặp hổ mà vô sự” thành: “Non cao gặp hổ mà yên ổn”(!) Đọc lên thấy tênh hênh như vậy đó.
Nói thêm: Chuyện Hà chính mãnh ư hổ và câu nói của Khổng tử với học trò khi đi qua núi Thái Sơn nhiều bạn đọc đã biết. Nhưng xin ghi lại để nếu tình cờ đọc được Lê Xuân Đức khỏi thắc mắc, chê bai Nam Trân: Khổng Tử đi ngang qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc lóc ở mộ rất bi thương. Phu tử tựa đòn ngang xe, cúi xuống nghe thấy, sai Tử Lộ hỏi bà rằng: “Tiếng khóc của bà dường như đang có nỗi đau buồn chất chứa ?”. Người đàn bà mới trả lời: “Đúng thế. Ngày trước cha chồng tôi chết vì cọp, sau đó chồng tôi chết vì cọp, bây giờ con trai tôi cũng chết vì cọp”. Phu tử mới hỏi: “Tại sao bà lại không bỏ đi nơi khác ?”. Người đàn bà đáp lại: “Vì ở đây chính sự không hà khắc”. Phu tử mới quay lại nói: “Các trò hãy ghi nhớ điều đó. Chính sự hà khắc còn tàn bạo hơn cọp vậy”. (theo sách Lễ Ký -HTC dịch lại trên cơ sở bản dịch của Trần Văn Chánh)
3.Bài "Viết thay báo cáo cho bạn tù":
Đồng chu cộng tế nghĩa nan từ,
Thế hữu biên tu báo cáo thư.
Phụng thử đẳng nhân kim thủy học,
Đa đa bác đắc cảm ân từ.
Nam Trân dịch nghĩa:
Cùng hội cùng thuyền việc nghĩa khó từ chối,
Viết hộ báo cáo giúp bạn;
Phụng thử đẳng nhân nay mới học,
Thế mà đã nhận được bao lời cảm ơn.
Và dịch thơ:
Cùng hội cùng thuyền nên phải giúp,
Viết thay báo cáo dám từ nan;
Chiểu theo thừa lệnh nay vừa học,
Đã được bao lời bạn cảm ơn.
          Với bản dịch này của Nam Trân, Lê Xuân Đức lên giọng kẻ cả: "Bản của Nam Trân thanh thoát, giản dị như nguyên tác. Tuy nhiên, cần chuyển ngữ một số từ sao cho sát nghĩa, đúng nghĩa. Ví như "nan từ" có nghĩa là khó từ chối, nếu chuyển "nan từ" thành "từ nan" thì vẫn chưa rõ nghĩa, thậm chí còn có thể gây hiểu lầm từ chối một việc khó khăn, "từ nan" như bản dịch".
          Ở đây, Lê Xuân Đức không hiểu, hoặc hiểu lầm là do trình độ hạn chế của mình, phải đâu tại cụ Nam Trân dịch thơ ? Được biết Lê Xuân Đức rất am tường lịch sử và văn học Việt Nam, vậy xin ông bớt cao ngạo một chút để đọc lại hai câu thơ đánh giặc Đèo Cát Hãn của Lê Lợi trên bia cổ Hào Tráng, khắc trên vách đá sông Đà, (nay đã đem về Sở văn hóa thể thao du lịch Hòa Bình):
-Kỳ khu hiểm lộ bất từ nan,
Lão ngã do tồn thiết thạch can.
Nghĩa là:
Đường gồ ghề hiểm trở, chẳng ngại khó khăn,
Ta tuy già mà gan còn vững như sắt đá.
      Đọc lại rồi, chắc Lê Xuân Đức hiểu tại sao Lê Lợi cũng dùng hai chữ "từ nan" (giống như cụ Nam Trân) mà mọi người vẫn không hiểu lầm là Lê Lợi đã "từ chối một việc khó khăn". Bởi vì trước hai chữ "từ nan" có chữ "bất". "Bất từ nan" nghĩa là không ngại khó khăn. Với Nam Trân, đã có chữ "dám" đứng trước hai chữ "từ nan", thành: "dám từ nan", nghĩa là không dám từ chối khó khăn: “Viết thay báo cáo dám từ nan” (Chữ “dám” ở đây nghĩa là đâu dám, không dám. Việt Nam tự điển: “Dám:bạo, không sợ. Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng (Kiều).
Như thế, Hồ Chí Minh dùng "nan từ" là khó có thể từ chối, Nam Trân dịch là "dám từ nan" nghĩa là không dám từ chối, thì có đâu là nghịch nghĩa, có gì mà hiểu lầm ? 
Như thế, cái “vốn Hán học phong phú, lại am hiểu lịch sử và văn học Việt Nam, lịch sử văn học Trung Hoa đến độ sâu sắc” (chữ của Nhà thơ Hữu Thỉnh khen tặng LXĐ) cộng bốn mươi năm nghiên cứu thơ Bác của Lê Xuân Đức đang phô bày một cách rất chân thực qua từng câu, từng chữ trong sách “Nhật ký trong tù và lời bình”.
          Cũng trong bài "Viết  hộ báo cáo cho người bạn tù",câu “Phụng thử, đẳng nhân kim thủy học”,Nam Trân dịch: Chiểu theo, thừa lệnh nay vừa học. Lê Xuân Đức lại không bằng lòng và tiếp tục “truy” Nam Trân: "Cũng như những từ "phụng thử", "đẳng nhân" là các từ thường dùng trong các bản tấu biểu xưa của Trung Quốc, nay các công văn giấy tờ của chính quyền Trung Hoa dân quốc cũng có dùng (Lưu ý bạn đọc, đoạn này Lê Xuân Đức "chôm" của GS Hoàng Tranh. Nguyên văn: "Phụng thử, đẳng nhân" là các từ ngữ thường dùng trong các bản tấu biểu xưa của Trung Quốc" - Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh-chú thích-thư pháp tr.191- LXĐ chỉ bỏ đi một chữ "ngữ" trong "từ ngữ" mà thôi-HTC chú thích). Khi Bác viết hộ đơn từ cho những tù nhân, Bác đã sử dụng các từ ấy mà Bác cho là nay mới học được, kim thủy học. Trong văn bản dịch thơ những từ "phụng thử đẳng nhân" được dịch là chiểu theo, thừa lệnh thì chưa sát nghĩa. Song nếu bản dịch để nguyên không chuyển nghĩa thì sẽ có bạn đọc không hiểu nghĩa câu thơ".
          Như  thế, Lê Xuân Đức chê cho có chê. Mà chê lại không đúng tí nào:
          -Ba từ "kim thủy học" nghĩa là nay mới (bắt đầu) học (kim = nay; thủy = bắt đầu). Ý Bác nói những từ ấy vốn xa lạ với Bác, Bác không dùng đến (vì khi còn tự do, có dùng làm gì đâu ?). Nay vì cảnh ngộ, bất đắc dĩ mới phải học cách dùng. Thế nhưng "kim thủy học" (nay mới học) Lê Xuân Đức lại dịch là "nay mới học được". Thưa ông, “nay mới học” và “nay mới học được” ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Bởi "nay mới học được" của Lê Xuân Đức có nghĩa: điều cần thiết ấy đáng ra phải biết, phải học được từ lâu rồi mà lại chẳng học trước đi, hoặc chẳng ai dạy cho mà học (!) 
          -Lê Xuân Đức chê Nam Trân dịch: "chiểu theo, thừa lệnh thì chưa sát nghĩa", nhưng ngay sau đó lại thừa nhận: "Song nếu bản dịch để nguyên không chuyển nghĩa thì sẽ có bạn đọc không hiểu nghĩa câu thơ". Thế là Lê Xuân Đức cũng chẳng biết làm thế nào hơn. Ở đây, Lê Xuân Đức còn thể hiện một điều ấu trĩ, máy móc nữa: các từ "phụng thử, đẳng nhân"Hồ Chí Minh đưa ra chỉ có ý muốn nói đây là những từ cổ, bản thân chưa từng dùng trong các văn bản giấy tờ, nhưng vì cảnh ngộ bị bắt giam, lại gặp bạn tù không biết chữ, không viết được báo cáo, mình là người có chữ chẳng lẽ lại chối từ. Bác đã làm một việc lần đầu tiên làm, thế nhưng: “Đa đa bác đắc cảm ân từ” (Đã được bao lời bạn cảm ơn-Nam Trân dịch) Cho nên "phụng thử, đẳng nhân" đâu có quan trọng đến mức khi dịch thơ phải thật “sát nghĩa” như yêu cầu của Lê Xuân Đức ? Mà Nam Trân dịch như vậy ông còn đòi "sát" thế nào nữa ?
4. Bài Quán trọ:
Chiếu lệ sơ lai chư nạn hữu,
Tất tu thụy tại xí khanh biên;
Giá như nhĩ tưởng hảo hảo thụy,
Nhĩ yếu đa hoa kỷ khối tiền
Nam Trân dịch nghĩa:
Theo lệ các bạn tù mới đến,
Ắt phải ngủ cạnh hố xí;
Nếu anh muốn ngủ ngon giấc,
Anh phải tốn thêm mấy đồng bạc.
Và dịch thơ:
Lệ thường tù mới đến,
Phải ngồi cạnh cầu tiêu;
Muốn ngủ cho ngon giấc,
Anh phải trả tiền nhiều.
          Lê Xuân Đức tiếp tục đem trình độ “Trung văn” lớp đồng ấu ra dạy Nam Trân tiên sinh: "Ở câu thơ thứ ba cần lưu ý đến hai từ hảo hảo. Tiếng Trung Quốc nói hảocó nghĩa là tốt, hảo hảo là tốt tốt, tương đối tốt, kha khá một chút, nếu dịch hảo hảo thụy là ngủ ngon giấc thì chưa sát nghĩa lắm, trong văn cảnh "Giả như nhĩ tưởng hảo hảo thụy", hảo hảo thụy có nghĩa là ngủ yên một chút, hoặc ngủ kha khá một chút mà thôi".
Mời Lê Xuân Đức xem “Hán điển tuyển tự thích nghĩa” của Trung Quốc: 好好: 形容很好,完好 ( Hảo hảo:hình dung hẩn hảo, hoàn hảo. Nghĩa là: Hảo hảo: hình dung việc gì rất tốt, hoàn hảo)
          Như thế, câu "Giá như nhĩ tưởng hảo hảo thụy", cụ Nam Trân dịch nghĩa: Nếu anh muốn ngủ ngon giấc, dịch thơ: Muốn ngủ cho ngon giấc, có gì là "không sát nghĩa lắm" ? Mà dẫu có “chưa sát nghĩa lắm”, cũng đâu có "tày đình" như tội phá hỏng nguyên tác thơ Hồ Chí Minh, lại đạo văn để bình văn như Lê Xuân Đức ? Đây là dịch thơ kia mà ? Cụ Nam Trân đâu có dịch sai, hoặc dịch làm mất đi ý nghĩa quan trọng của ý nguyên tác ? Vả lại cái ý tưởng "hảo hảo thụy có nghĩa là ngủ yên một chút, hoặc ngủ kha khá một chút" Lê Xuân Đức đưa ra để chê Nam Trân, (giả sử có đúng và hay) cũng đâu phải là phát hiện của ông ? Các vị Nam Sơn, Nguyễn Thế Nữu đã từng dịch (trích lần lượt): "Ví anh ngủ yên đôi chút"  và: "Giá như anh muốn ngủ khá chút ít" hãy còn rành rành trong "Nhật ký trong tù và lời bình" do chính Lê Xuân Đức chép lại đấy thôi. Sao lại có kiểu lập lờ đánh lận con đen như vậy ?
          5.Bài "Mới đến nhà lao Thiên Bảo".
          Lê Xuân Đức “chấm điểm” cho mọi người, và tiếp tục “phê” Nam Trân: "Bài thơ Sơ đáo Thiên Bảo ngục" là một trong những bài thơ có nhiều bản dịch, bản dịch nào cũng khá trôi chảy, giàu chất thơ. Tuy nhiên, có bản dịch còn những hạt sạn, tuy giữ được âm điệu thơ nhưng lại không diễn dịch được đúng cái thần của nguyên tác. Ví như hai câu:
Triệt hạ hựu vô an thụy xứ,
(đúng ra là triệt dạ, LXĐ phiên thành triệt hạ-HTC)
Xí khanh thượng tọa đãi triêu lai.
Mà dịch là:
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ,
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai.
Thì quả là không ổn chút nào, bởi nghĩa trong nguyên tác là:
Suốt đêm lại không có chỗ ngủ yên,
Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.
Hiểu hai chữ lại khổ mang ý nghĩa ca thán thì càng không chính xác. Như ta biết, dù bị hành hạ, dù khổ cực đến mấy, có bao giờ Bác than thở đâu".
Đoạn này, Lê Xuân Đức nên đọc lại hai câu đầu của bài thơ:
Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài;
(Cả ngày đi bộ năm mươi ba cây số,
Ướt hết áo mũ, rách cả dép)
          Như thế, ý thơ rất rõ: Ban ngày đã khổ sở, vất vả mệt nhọc, những tưởng đêm về được nghỉ ngơi, nhưng "Suốt đêm lạikhông có chỗ ngủ, Phải ngồi trên hố xí đợi trời sáng". Chính Lê Xuân Đức đã dẫn: "Trần Dân Tiên kể: Ban đêm, cụ Hồ phải ngồi trên cầu xí ngay ở trong phòng giam. Nhưng cụ vẫn không được yên ổn. Lâu lâu lại phải đứng dậy nhường chỗ cho một người đi ỉa đêm". Như thế, ngày đã khổ, đêm lại càng khổ ! Hai chữ “Lại khổ” Nam Trân dịch có phải là “than thở” hay không ? Và “than thở” với ý lên án chế độ ngục tù, hay than thân trách phận phụ thuộc vào trình độ cảm nhận của Lê Xuân Đức. Không nên đổ lỗi cho câu thơ Nam Trân dịch. Bởi "Thịt da ai cũng là người". Tình cảnh cùng cực chất chồng của Bác như thế, Nam Trân dịch là "Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ, Ngồi trên hố xí đợi ngày mai" mà còn chê là "hạt sạn"  thì Lê Xuân Đức còn "muốn gì" ở đây nữa cho không có “sạn” ?
Có lẽ phải phong cho Lê Xuân Đức là "Thánh chê" mới phải ?!
          6.Bài Tức cảnh. Hai câu:
Tổ quốc chung niên vô tín tức,
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.
Nam Trân dịch thơ:
Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng,
Tin tức bên nhà bữa bữa trông.
          Lê Xuân Đức tiếp tục cao giọng: "rất đáng tiếc từ Tổ quốc được chuyển ngữ là cố quốc. Tuy cố quốc cũng là nói Tổ quốc, nhưng hai chữ Tổ quốc trong bài thơ có một ý nghĩa đặc biệt. Trong tập "Ngục trung nhật ký", khi nói về Tổ quốc, Bác đã dùng: Việt địa (đất Việt), Nam thiên (trời Nam), cố hương, non sông...chỉ duy nhất một lần trong bài thơ Tức cảnhnày, Bác mới dùng hai chữ Tổ quốc. Đây chính là nhãn tự của bài thơ, thần thái của bài thơ. Rất mong có bản dịch giữ nguyên được hai chữ Tổ quốc".
          Cái kiểu "thẩm bình" đếm đếm, xem xem mấy lần Bác dùng từ Việt địa, Nam thiên, Tổ quốc; cố hương, non sông (mà "Ngục trung nhật ký"là thơ chữ Hán, Bác dùng từ "non sông" bao giờ vậy ông Lê Xuân Đức ?) là kiểu dụng công của học trò. Đâu phải phát hiện gì đáng kể ? Hơn nữa Lê Xuân Đức tiếc hai từ "Tổ quốc" và coi đây là "nhãn tự" của bài thơ chỉ với lý do là nó xuất hiện một lần duy nhất trong "Nhật ký trong tù" là sáo. Vậy, bây giờ bình đến bài “Bệnh trọng” ông lại nói, từ “Việt địa” cũng xuất hiện một lần duy nhất rồi tán tụng chữ đó là “nhãn tự” hay sao ? Lê Xuân Đức hãy cùng chúng tôi đọc lại thêm lần nữa:
Tổ quốc chung niên vô tín tức,
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.
          Nguyên tác: "Tổ quốc" (câu trên) đối với "cố hương" (câu dưới). Từ "cố hương" ở đây gợi nỗi nhớ nhung, xa cách vời vợi của Bác-một người tha hương, lại đang lâm cảnh ngộ lao tù chưa biết khi nào được ra. Khi dịch thơ, Nam Trân đã giữ lại chữ "cố" của tác giả "Ngục trung nhật ký" bằng cách chuyển "cố hương" thành "cố quốc": "Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng, Tin tức bên nhà bữa bữa trông" là rất hay, rất đúng, sao Lê Xuân Đức còn phải phàn nàn, chê bai ?
7.Bài Bạn tù họ Mạc. Hai câu:
“Xa đại pháo” tài chân vĩ đại,
Tại tù nhưng tưởng ngật nhân sâm.
Lê Xuân Đức dạy: “Ở đây cần lưu ý đến chữ tài. Trước đây có mấy bản dịch thơ đã dịch với nghĩa là tài giỏi. Từ Hán, tài trong văn cảnh này có nghĩa là mới, một tật xấu: một tấc đến trời, thì không thể cho là tài giỏi được”.
Chẳng có ai dốt tới mức, dịch chữ “tài” là mớithành tài giỏi như Lê Xuân Đức nghĩ. Mà ai dịch như vậy, sao ông không trích dẫn ? (Ngoài chê Nam Trân những điều không đáng chê, Lê Xuân Đức còn tạo ra những cái sai giả tưởng, để chính ông quay lại giảng giải, phê phán, phân tích, đính chính rất uyên thâm. Với cách này ông đã lừa được bao người). Lê Xuân Đức nên nhớ, "Nhật ký trong tù" không viết bằng văn ngôn (cổ văn) mà là văn bạch thoại. Chữ nghĩa của Hồ Chí Minh lại trong sáng, giản dị nên dẫu có “ý tại ngôn ngoại” vẫn rất dễ hiểu. Ví như câu: “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan” trong bài Đi đường, cụ Nam Trân đã dịch: Đi đường mới biết gian lao từ giữa thế kỷ trước rồi. Lại nữa, Lê Xuân Đức cho rằng “một tật xấu: một tấc đến trời, thì không thể cho là tài giỏi được”. Nhưng Lê Xuân Đức hãy yên tâm. Bốc phét, khoe khoang khoác lác vẫn được người ta gọi là “tài” là “giỏi” như thường. Ví dụ ngày thường ta vẫn nói: “Ông (lão, thằng) ấy chỉ có tài (giỏi) bốc phét thôi” chẳng hạn. Thế nên, Lê Xuân Đức đừng ngạc nhiên khi có người khác dịch hoặc nói đến chuyện “tài giỏi” trong câu “Xa đại pháo tài chân vĩ đại”. (Thực ra câu “Xa đại pháo tài chân vĩ đại”Khương Hữu Dụng đã dịch: Ba hoa khoác lác thật là tài, và đã được chính LXĐ in vào sách của ông). Cũng như cái tài “xa đại pháo”, tài “nổ” như pháo ở đây đã được tác giả “Nhật ký trong tù” mỉa mai là “chân vĩ đại” đó thôi ! Thậm chí trong lịch sử văn học có nhân vật vừa phét, vừa láo, dám ngang nhiên “đá bèo” giữa ban ngày còn được tôn là “trạng” nữa kia mà !
          8. Bài Đường đời khó khăn.
          Câu:"Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân" (Định đến Trung Hoa để gặp người quan trọng) Lê Xuân Đức lại chê: "Nam Trân dịch thơ: “Tìm đến Trung Hoa để hội đàm” thì xa ý. Sau này Trần Đắc Thọ dịch là: "Định gặp yếu nhân của đất Hoa" tuy sát ý hơn nhưng lại yếu chất thơ". Dịch thơ là như vậy đó. Được cái nọ lại mất cái kia là chuyện thường. Phần Lê Xuân Đức, ông có cách dịch để được cả hai sao không công bố ? Nếu dịch dở, dịch sai, độc giả có quyền chê. Nhưng chê theo cách dạy bảo "dễ ợt" của Lê Xuân Đức mới thật trớ trêu !
          Lê Xuân Đức không hiểu về thơ và dịch thơ phải thế nào nên loạn bàn lung tung cả. Thế nhưng, tại sao Lê Xuân Đức lại cứ nhắm vào Nam Trân và Viện văn họcmà "xô", mà "dìm" nhỉ ? Nam Trân tiên sinh (1907-1967) là bậc túc nho, người chủ trì dịch và có nhiều bản dịch thơ "Nhật ký trong tù"hay nhất, đạt nhất cơ mà ? Có lẽ Lê Xuân Đức đã từng và vẫn muốn dựa bóng, thậm chí dẫm đạp lên lưng những người khổng lồ để được cao lớn hơn một cách mau chóng, bất chấp tất cả !
           Theo chúng tôi, để hiểu được thơ Bác và "trao đổi" được với cụ Nam Trân, Lê Xuân Đức ít nhất cũng cần có thêm 40 năm nữa để trau dồi Hán học và viết lại cái tên Đức cho đúng nghĩa. Lúc đó, nếu Dịch giả-Nhà thơ Nam Trân rộng lòng cho phép, Lê Xuân Đức có thể trực tiếp gặp Nam Trân tiên sinh ở "bển" mà "phê"mà "thẩm" mà "bình" cũng chưa muộn ! Sao phải vội vàng, cẩu thả, cho ra đời cuốn sách đầy rẫy những sai sót như “Nhật ký trong tù và lời bình” ?
Trong bài “Bình và nghĩ về thơ Hồ Chí Minh” của GS Phong Lê (tài liệu gồm toàn các GS của ta và của Tàu ngợi khen Lê Xuân Đức, do chính ông Đức phô tô gửi tặng nhiều người trong dịp về nghỉ 30/4-1/5 tại Thanh Hóa) có viết: “Ông (tức Lê Xuân Đức-HTC chú thích) thuộc trong số không nhiều người có thâm niên theo đuổi khá lâu và khá sâu trong định hướng được lựa chọn, có những đóng góp đáng kể”.
Quả đúng là riêng “thâm niên” 40 năm nghiên cứu “thẩm bình” thơ của Lê Xuân Đức đã nhiều quá nửa số năm hưởng dương của Nam Trân tiên sinh rồi. Mà đã “có thâm niên” nghiễm nhiên được lên “lão làng”. Cộng với tài đạo văn, xào xáo, chúng ta hiểu tại sao Lê Xuân Đức trở thành Chuyên gia số 1 về thơ Bác. Chúng tôi cũng đồng ý rằng, đã 40 nghiên cứu phê bình thơ Bác, nhưng đến hôm nay, sự nghiệp của Lê Xuân Đức vẫn chỉ gói trọn trong hai chữ “theo đuổi”. Mặt khác, chặng cuối ông càng thêm đuối sức (Nhật ký trong tù và lời bình-cuốn sách mới nhất của Lê Xuân Đức đã nói lên điều đó). Và cuối cùng, công bằng mà nói, ông Lê Xuân Đức đã có “đóng góp đáng kể” trong việc phá hỏng nguyên tác thơ chữ Hán, và tuyên truyền cho mọi người hiểu sai về “Nhật ký trong tù” !

                                  Hết phần III

                                                                                     HTC

                                                               Tốc ký tại Quán trọ Quang Minh
                                                                     Sầm Sơn, dịp nghỉ 30/4-1/5