Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

NGUỒN GỐC GIA MIÊU NGOẠI TRANG

VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC 

                   HOÀNG TUẤN PHỔ

Khu Lăng miếu Triệu Tường (Ảnh tư liệu trước 1945)

Huyện Tống Sơn xưa chỉ là một dải đất nhỏ hẹp, càng thêm chật hẹp bởi núi liên chi, đồi bát úp. Đây là hình ảnh đặc trưng nhất của Thanh Hoá, cả ba miền rừng núi, trung du, và đồng chiêm trũng cùng hoà hợp trên một vùng đất cổ. Có lẽ họ Lê (tổ tiên của tuyên uý Lê Huấn) đến trước chọn nơi cát địa nhất, lập lên trang Bái Nãi rồi hương Đại Lại, lưng tựa vào dãy núi Ông Lâu hình long ngai, hướng nhìn ra sông Lèn vòng tay ôm phía trước. 

Năm 1336, Lê Quý Ly sinh ở mảnh đất “phát vương” này để thành Hồ Quý Ly, ông vua nhiều danh tiếng cũng lắm tai tiếng. Họ Nguyễn (tiên tổ của Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Công Duẩn) hẳn là đến sau, không ngại rừng thiêng nước độc, lập trại ấp Bái Nại, phát triển thành Bái Trang, sau là Gia Miêu Ngoại Trang ở một góc khuất hoang vắng, nơi núi Bái Sơn dáng rồng nằm gặp dãy Tam Điệp như đàn hổ dữ đuổi theo hai con trâu chạy ra tận sát mép biển Đông(1). Họ Nguyễn đến đây từ bao giờ ? Họ bí mật chui qua lỗ đơm đó của ông Khổng Lồ trên đèo Ba Dọi hiểm trở hay đàng hoàng vượt biển Thần Phù sóng gió rồi ngược dòng Tống Giang lên Bái Sơn?
Vua Gia Long nói : “Tổ tiên ta công đức chứa chồng, có hơn ngàn năm, nhưng thế đại xa cách, sự tích thiếu sót.(2) Và họ Nguyễn cũng chỉ truy tầm để truy phong đến đời ông nội Nguyễn Hoàng là Nguyễn Hoằng Dụ, thân phụ Nguyễn Kim. Địa danh Gia Miêu đã thấy nói đến ở đời Lê Thái tổ, với ba “trang” Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Nội, Gia Miêu Thượng, trong đó, Gia Miêu Ngoại là “anh cả”. Chữ “Gia Miêu” (Hán tự) là lúa tốt. Tổ tiên Nguyễn Công Duẩn đã sớm biến cả một vùng sơn lam chướng khí, nước độc hoá nước lành, đất chua thành đất ngọt để xây nên những đồng lúa tốt. Chắc chắn lương thực gia đình họ Nguyễn phải tích luỹ qua nhiều đời, giàu hơn cả Lê Lương giáp Bối Lý thời Đinh Lê, mới đủ cung cấp nghĩa quân Lam Sơn nhiều vạn thạch lương trong suốt 10 năm kháng chiến.
Câu chuyện “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” giống như một giai thoại vui vui. Nguyễn Hoàng vào Hoành Sơn đâu phải để dung thânmà để lập thân. Đặt chân lên đất Hoành Sơn, Nguyễn Hoàng cùng Nguyễn Ư Dĩ (người cậu ruột nuôi cháu từ lúc mới 2 tuổi) bàn tính kế lâu dài “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng” lại thường xưng là chúa Tiên”, tỏ rõ khát vọng lớn, lập giang sơn riêng. Đến phút cuối đời, Nguyễn Hoàng vẫn chỉ một niềm mong muốn “dựng nên nghiệp lớn”. “Nghiệp lớn” của Nguyễn Hoàng cũng như các đời chúa kế tiếp đều mang danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”. Thế là anh em thành cừu thù, đất nước xảy ra chiến tranh. Tất nhiên nếu không có chiến tranh, lịch sử sẽ mười phần hoàn hảo. Tuy nhiên, chiến tranh đã dạy cho cả hai bên những bài học đắt giá. Từ sau thất bại ở Nghệ An (1655-1660), chúa Nguyễn Phúc Tần nhận ra phía bắc không phải là con đường mở nước. Và những lần tiến đánh Nam Hà tiếp đó của các chúa Trịnh như càng thúc giục thêm các chúa Nguyễn sải dài hơn bước chân mở đất về phương Nam.
 Chính sách di dân khẩn hoang là quốc sách lớn của chúa Nguyễn. Nòng cốt của đội quân khẩn hoang vô cùng đông đảo ấy không phải là dân nghèo phiêu dạt. Trước hết, họ là những nhà giàu có, những nông dân biết làm ăn, những quan lại am hiểu nghề ruộng mang theo những thành phần bất hảo: lưu dân, tù binh, hàng binh, tội  đồ, nô lệ,... người người, lớp lớp tiến về miền đất mới. Tổ tiên chúa Nguyễn xuất thân là dân khai hoang lập ấp, từ hoang rậm mà có trăm kho nghìn lẫm, từ dân lân, dân ấp mà thành trụ cột quốc gia. Những anh hùng ấy khi gấp khúc lươn, họ lại trần lưng tay cày tay cuốc cùng gia nhân, tướng sĩ tự mưu sinh, tích luỹ lương thực chờ thời cơ mới, tiêu biểu: Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim,...Các chúa Nguyễn không chỉ có truyền thống mà còn biết phát huy truyền thống bằng kinh nghiệm thực tế và tư duy sáng tạo của mình để tổ chức sản xuất, quản lý lao động, khắc phục thuỷ thổ, đấu tranh chống thiên nhiên, xây dựng trại ấp,...giúp dân an cư lạc nghiệp trên quê mới.
Quốc sách di dân khẩn hoang lập làng của các chúa Nguyễn giải quyết có hiệu quả vấn đề nông dân trong lịch sử, hạn chế tới mức thấp nhất căn bệnh nan y của xã hội phong kiến, có lúc, có nơi xảy ra khá trầm trọng là phiêu tán, tệ nạn, trộm cướp...dẫn đến bạo động, loạn lạc,...ảnh hưởng an ninh quốc gia. Các chúa Nguyễn, ngoài trách nhiệm dựng nước và giữ nước còn tự giao phó cho mình nhiệm vụ mở nước. Trong tình hình bấy giờ, mở nước cũng chính là dựng nước và giữ nước. Họ mở nước đến đâu, di dân khẩn hoang, lập làng đến đó, và ngược lại, di dân khẩn hoang, lập làng đến đâu, mở nước tới đó. Nghĩa là dân ở đâu, cõi bờ ở đó. Nếu giặc xâm phạm cõi bờ, chính người dân ở đó cầm vũ khí, tự bảo vệ làng quê mình. Trong khoảng 200 năm, các chúa Nguyễn mở mang được gần nửa nước, từ Phú Yên, Khánh Hoà đến An Giang, Hà Tiên, công nghiệp sánh với mấy nghìn năm lịch sử.
 Tuy nhiên, lịch sử đất nước cũng như mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ, có thịnh suy, tồn vong. Nhà Đinh trung hưng thất bại. Nhà Lý bị diệt là mất luôn. Nhà Trần trung hưng đến hai lần đều không thành. Hai nhà: Hậu Lê và Nguyễn đều sáng chói sự nghiệp Trung hưng. Tuy vậy, các vua Lê Trung hưng đều là cái bóng mờ trên ngai vàng đã nhạt màu son. Riêng nhà Nguyễn làm chủ cả một vùng giang sơn rộng lớn nghìn xưa chưa từng thấy. Nhưng đó là do thực lực nhà Nguyễn hay bởi bàn tay can thiệp giúp đỡ của nước ngoài?
            Thực tâm, Nguyễn Ánh trên bước đường cùng, chưa dám quyết định cầu viện vua Xiêm vì chưa tin lắm ông bạn láng giềng nhiều tham vọng. Nhưng tướng Châu Văn Tiếp lại thua trận Cá Trê, đánh liều chạy sang Vọng Các kêu cứu. Vua Xiêm sai hai người cháu Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem hai vạn quân giúp Gia Định trả thù Tây Sơn vốn đã gây cho Xiêm mối bất bình từ trước. Nguyễn Ánh không thể không chấp nhận vì lúc ấy ông chẳng còn tí quyền hành nào ở Gia Định. Việc bất ngờ xảy ra đến cả vua Xiêm cũng không thể ngờ là Chiêu Tăng, Chiêu Sương thả cho quân sĩ cướp bóc, hãm hiếp, tàn hại dân lành, tranh nhau cả tiền bạc Tây Sơn ném ra làm mồi nhử, khiến Nguyễn Ánh thất vọng tin chắc sẽ thất bại, đành tập hợp bề tôi của mình cấp tốc rút về đảo Thổ Chu. Tại đây, theo lời Bá-Đa-Lộc, Nguyễn Ánh phải than rằng người Xiêm lừa gạt ông, mượn cớ lập lại quyền bính cho ông để dùng danh vị ông mà cướp bóc dân chúng và bắt sống ông thôi.(3)
            Dù sao, sai lầm của Châu Văn Tiếp dẫn đến hậu quả nhân dân Gia Định bị tàn hại, Nguyễn Ánh là chủ soái vẫn phải chịu trách nhiệm.
            Mạc thị gia phả, tập sử liệu của người đương thời sống trong cuộc chép rất rõ: “Chiêu Tăng và Chiêu Sương vẫn thả quân cướp bóc tàn hại dân chúng...Vua (tức Nguyễn Ánh) ngăn cản không được, nhỏ nước mắt than : “Việc phục quốc cốt là lo cho nước cho dân, thế mà nay để cho bọn ấy thả sức làm điều bạo ngược, làm quốc chủ như ta làm gì, kẻo rồi giặc nguỵ (tức Tây Sơn) lại vin vào cớ đó vu cho ta rước giặc về tàn hại nhân dân. Ta không nỡ nhìn thấy cảnh đó”. Chư tướng xin từ nay không để mặc cho bọn chúng hoành hoành tàn bạo nữa” (4). Sau đó, nhiều lần vua Xiêm muốn gửi quân sang giúp, Nguyễn Ánh đều không nhận. Ví dụ: tháng 9 năm Quý Sửu (1793) vua Xiêm sai đại tướng Chất Trì đóng quân 5 vạn ở Nam Vang, gửi 500 chiến thuyền đậu ở Hà Tiên, đưa thư hẹn giúp Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, nhưng ông từ chối khéo. Nguyễn Ánh không dễ quên bài học hơn 10 năm trước. Ông nói với tướng sĩ: “Mượn người ngoài giúp, đưa họ vào trong nước mình, sợ di mối hại về sau” (5).
            Nhưng phải chăng, “miệng đọc ca, tay gẩy đàn lỗi”, Nguyễn Ánh vẫn cầu viện phương Tây! Tại sao?
 Bá đa-lộc đem hoàng tử Cảnh đi cầu viện từ cuối năm 1784, đầu năm 1787 mới đến nước Pháp. Rồi 10 tháng sau, ngày 28-11-1787, hiệp ước mới được ký kết, một bên là đại diện vua Louis XVI, một bên Bá-đa-lộc được Nguyễn vương uỷ nhiệm với tờ giấy viết từ năm, sáu năm trước ! Không có quốc thư, chỉ có một tín vật làm tin, đó là chú bé mang tên hoàng tử Cảnh, lúc ra đi tuổi lên 3, bây giờ lên 7 ! Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh  4 chiếc tàu, 1.200 bộ binh, 200 pháo binh, 250 lính Phi, để đổi lấy cửa biển Hội An, sau thêm hòn Côn Lôn. Pháp được toàn quyền và độc quyền thương mại ở Nam Hà(8). Nhưng hiệp ước không thành! Nhiều năm sau, một số người Pháp còn tắc lưỡi tiếc của vì đã bỏ mất món hàng béo bở. Họ không biết chính bởi món hàng hiệp ước Versailles quá hời tới mức không ngờ, toàn quyền De Conway, người được giao trách nhiệm thi hành  hiệp ước, vốn tính đa nghi càng thêm hồ nghi. Ông đã phái nhiều tàu đến Nam hà thám thính, tìm hiểu các cửa biển, các đảo lớn  nhỏ và thực lực Nguyễn Ánh...Hẳn là tên cáo già này đã đánh hơi thấy nhượng địa quan trọng : cửa bể Hội An thuộc quyền quản lý của Tây Sơn hùng mạnh, còn Côn Lôn chỉ là hoang đảo giữa trùng khơi mịt mù sóng gió!
            Tờ báo Gazette nationale ngày 14-6-1789 xuất bản tại Pondichéry viết: “Không bao giờ tình hình dễ dàng cho việc lập lại quyền bính cho ông vua mất ngôi đã trở về chiếm 5 tỉnh phía nam như bây giờ”(9). Đó là một nhận xét đầy mỉa mai: một ông vua mất ngôi,  mới trở về tạm thời chiếm được Gia Định như Nguyễn Ánh mà dám đòi nhường đất đai đã thuộc về một ông vua hùng mạnh của Tây Sơn !
             Trước tình hình ấy, Nguyễn Ánh phản ứng như thế nào? Ông rất mừng khi hoàng tử Cảnh đã được Bá-đa-lộc bảo vệ yên lành, tổ chức đón rước linh đình tại Vũng Tàu. Còn hiệp ước Versailles, De Conway coi là “một trò đùa”, Nguyễn Ánh cũng xem như tờ giấy lộn! Nó có vẻ giống chuyện chú Cuội bán đàn vịt trời trong truyện cười dân gian Việt Nam, một thứ mẹo vặt rất An Nam ! Nhưng hiệp ước Versailles sẽ dẫn tới chiến tranh Pháp với Tây Sơn nếu Pháp muốn có được cửa bể Hội An, và như “Chiến quốc sách” “Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”. Có lẽ đó mới là thâm ý của “ngư ông” Nguyễn Ánh. Sự thật, lúc bấy giờ, con voi Louis XVI đã già, quá già, lại đang sa lầy ở chính nước Pháp và chưa biết đến bao giờ mới thoát ra được.
            Cần nói thêm, hiệp ước Versailles thất bại, Bá-đa-lộc không thể đi không lại về không. Con đường truyền giáo của đức cha có thể chấm hết nếu ông bị mất lòng tin đối với Nguyễn Ánh. Ông vất vả chạy ngược, chạy xuôi mới quyên nổi tiền mua 1.000 khẩu súng trường và mộ được 19 người, gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng giống nhau ở điểm hám lợi, ham danh ! Họ đến Gia Định tháng 7 năm 1789, thường ngày lo đánh chén hơn đánh giặc và rốt cuộc đánh bài chuồn sau mấy năm “làm ăn” không phát tài ! Theo số  liệu của các giáo sĩ: trong quân đội của Nguyễn Ánh đến năm 1800, số người Tây cũng chỉ có khoảng hơn 40 người !
Cái người xưa gọi là “khí số” chính là vai trò lịch sử.  Khi nhà Tây Sơn hết vai trò lịch sử, lịch sử tất phải chọn ai đó, không người này thì người khác, đứng ra dọn dẹp đống đổ nát để xây dựng trên nền tảng quốc gia ngôi nhà mới. Và lịch sử đã chọn Nguyễn Ánh. Lịch sử có thể chọn nhầm ai đó, nhưng với Nguyễn Ánh, là nhân vật xứng đáng nhất vì ông đã thành công nhất. Nếu không chọn Nguyễn Ánh, lịch sử chọn ai bấy giờ? Điểm mặt các anh hùng, hào kiệt nổi lên buổi ấy, không còn ai hơn Nguyễn Ánh hay bằng Nguyễn Ánh. Thiết tưởng hậu thế không nên quá khó tính đòi hỏi những gì lịch sử không thể có được, những gì Nguyễn Ánh không thể làm được. Hạn chế lịch sử từ Quang Trung đến Gia Long là không thể cởi bỏ sớm chiếc long bào ố vàng cũ kỹ để thay bằng bộ complet tân thời mới toanh của văn minh tư sản. Vậy, ở trong cái lồng phong kiến đã trở nên chật hẹp ấy, triều Nguyễn của Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị phải khắc phục như thế nào để ổn định đất nước, bảo vệ nền độc lập, điều hoà mâu thuẫn giai cấp, củng cố vương quyền, phát triển xã hội toàn diện? Trước hết là:
Vấn đề ruộng đất:
            Sau gần nửa thế kỷ loạn lạc, chiến tranh, triều Nguyễn phải gánh chịu hậu quả nặng nề về tình hình ruộng đất rắc rối, phức tạp, đòi hỏi nhà nước phải có chủ trương đúng đắn kèm theo biện pháp hữu hiệu. Năm 1803, Gia Long chỉ dụ cấm bán công điền, tiếp theo, năm 1804, chỉ dụ chia công điền. Gia Long không thể và cũng chưa dám làm gì khác vì đất nước chưa thật  sự ổn định. Một số triều thần xin vua thi hành phép “phân điền chế sản”. Nhưng triều Hồ “hạn điền” hoàn toàn thất bại, triều Tây Sơn lấy ruộng nhà giàu chia cho nhà nghèo cũng chỉ có tác dụng nhất thời. Điền chủ giàu lên, ngày càng giàu thêm nhờ nhiều nguồn đất đai, không phải hoàn toàn bởi thủ đoạn chiếm đoạt của nông dân. Gia Long rất có cơ sở khi ông nói:  “Bọn nghèo không chịu khó nhọc làm ăn, chia cho rồi đem cho kẻ khác, nay muốn ngăn ngừa bọn cường hào kiêm tính bao quát, lấy ruộng chia đều  thì lại thêm phiền nhiễu nhân dân. Trẫm đã nghĩ rồi, không thể làm được”(10) Cho nên Gia Long vẫn phải theo cách cũ của triều Lê, nhưng kèm theo các chính sách tích cực: mở mang đồn điền, đẩy mạnh khai hoang, khuyến khích lao động, dùng pháp luật ràng buộc và xử lý kẻ lười biếng, bọn cường hào, v.v...Đời Minh Mạng, xét thấy tổng số ruộng đất ở Bình Định 76.000 mẫu, ruộng tư chiếm 70.000, còn ruộng công chỉ có 6.000 mẫu, cho lấy một nửa số ruộng tư của mỗi nhà chuyển sang làm ruộng công. Cách làm này tưởng như người ít ruộng chịu thiệt thòi nhất, sự thật ruộng tư của họ ra đi lại trở về dưới cái tên khác: công điền. Còn nhà giàu, càng giàu càng thua thiệt nhiều. (Những nơi công điền nhiều hơn hoặc bằng tư điền không áp dụng lệnh này).
             Những cố gắng của triều Nguyễn các đời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đã đưa nông dân ra khỏi bờ vực thẳm, hạn chế ở mức độ nhất định nạn lưu tán, căn bệnh nan y của thời đại phong kiến nói chung. Đặc biệt, nhà Nguyễn là triều đại phong kiến duy nhất trong lịch sử có thóc gạo dồi dào tới mức xuất khẩu bán cho ngoại quốc.
            Vấn đề thương mại:
            Có phải triều Nguyễn “trọng nông ức thương”? Đúng! Thì triều đại phong kiến nào mà chẳng “nhất bên trọng, nhất bên khinh” ? Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…bấy giờ cũng không khác, không thể khác. Đó là đặc điểm của phong kiến phương Đông chăng? Tuy vậy, hãy xem triều Nguyễn ức thương như thế nào?
            Nhà Nguyễn đặt trạm thu thuế trên ngả ba các con sông huyết mạch. Điều này chứng tỏ nội thương nếu không phát đạt cũng chẳng bị ngăn cấm. Sau một thời gian, Gia Long bỏ bớt trạm thu thuế và giảm mức thuế hoặc không đánh thuế một số mặt hàng để khuyến khích nội thương. Đối với ngoại thương, triều Nguyễn bị xem là “bế quan toả cảng”. Có đúng triều Nguyễn “bế quan toả cảng” hay chỉ giới hạn giao thương, quản lý chặt ngoại thương? Hãy đơn cử một vài ví dụ:
Sau khi Gia Long lên ngôi, người nướcAnh ba lần đến Đà Nẵng xin lập phố buôn bán ở Trà Sơn, nhà vua đều không cho, vì đấy là nơi quan yếu không thể cho người ngoài đến ở. Năm 1832, tổng thống Hoa Kỳ cử đặc phái viên mang quốc thư đến xin thông thương tàu thuyền ở cửa Vụng Lấm, Phú Yên, Minh Mạng sai viết thư phúc đáp, đại ý: Hoa Kỳ muốn xin thông thương, cố nhiên ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay tàu thuyền nếu có đến buôn bán thì cho ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà vượt quá kỷ luật (11).
            Không thể nói nhà Nguyễn, cụ thể Gia Long, Minh Mạng chủ trương “bế quan toả cảng”. Lý do họ quy định cho tàu thuyền ngoại quốc là chính đáng và cách giải quyết như thế là thoả đáng. Các vua Nguyễn cũng hoàn toàn đúng khi triều đình nắm độc quyền ngoại thương để chỉ mua vào những thứ thật cần thiết và bán ra những gì nên bán, có thể bán. Đặc biệt loại hàng chiến lược như thóc gạo, khoáng sản, … quan hệ tới an ninh quốc gia, nhà vua trực tiếp quản lý. Triều đình Nguyễn biết khá rõ trên tàu buôn của nước ngoài có cả những món hàng nguy hiểm chết người: cha cố, gián điệp, thuốc phiện, … không thể để tự do nhập lậu vào Việt Nam.
            Một nhà sử học kịch liệt lên án chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Nguyễn và phê phán thẳng tay tình trạng công thương đình đốn ở triều Nguyễn cũng đã buộc phải viết: “dù sao thời Gia Long đến thời Minh Mạng, nền thương mại trong nước và bên ngoài có phục hồi; thuế thương chính thu được là 3 trên bốn mươi triệu, tức là 1 phần 13 của ngân sách nói chung” (12).
            Vấn đề bang giao:
            Truyền thống Việt – Miên – Lào -  Xiêm là láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau. Gia Long trước khi mất, căn dặn hoàng thái tử (tức Minh Mạng) không được gây hấn ngoài biên (13). Năm 1823, Diến Điện vì mấy lần xâm lược Xiêm, bị quân Nguyễn giúp Xiêm đánh thua nên xin lập đồng minh Việt – Diến chống Xiêm, Minh Mạng từ chối. Nhà vua bảo triều thần: “Không nên bỏ tình hoà hiếu mà tìm sự cừu thù” (14). Nhưng bản tính các vua Xiêm hay cậy mạnh, lại nhiều tham vọng, muốn thôn tính Lục Chân Lạp (Miên) để xâm chiếm luôn vùng đất Gia Định, mưu đô hộ Vạn Tượng (Lào) nhằm uy hiếp cả miền Trung nước Việt. Bởi thế, nhà Nguyễn phải sai tướng đem quân giúp Miên, Lào giữ yên đất nước, vì Việt – Miên – Lào như môi với răng, môi hở răng lạnh. Xiêm nổi giận, hễ có dịp là tấn công Việt để trả thù. Năm 1833, quân Xiêm đánh chiếm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, đánh chiếm cả miền đất phía tây Quảng Trị và xâm phạm biên giới Nghệ An, uy hiếp đến kinh đô Huế, khiến triều đình Nguyễn hết sức lo lắng. Phải mất mấy năm vất vả, quân Nguyễn mới dẹp yên được. Nhưng sau đó, triều đình Nguyễn vẫn sẵn sàng bỏ qua chuyện chiến tranh,  lại quan hệ hữu hảo với Xiêm.
            Không biết có bao nhiêu độc giả đã hiểu lầm bởi một giáo sư nổi tiếng đầu ngành sử học, đã dùng ngòi bút đanh thép kết tội các vua Nguyễn “bành trướng, xâm lược” và “chính sách xâm lược tai hại của triều đình nhà Nguyễn càng làm cho cuộc khủng hoảng trong nước thêm sâu sắc”. Ông tâng bốc Xiêm hết lời và mạt sát Nguyễn cũng cạn lời! (15). Sự thật, từ thời các chúa Nguyễn, hai nước Miên, Lào đã nhờ Nam hà bảo hộ để chống lại sự bành trướng của Xiêm. Và các chúa Nguyễn, tiếp theo là các vua Nguyễn đều hết lòng với Miên, Lào trong việc bảo hộ, vì bảo hộ bạn cũng tức là bảo vệ mình. Bảo hộ là gì? Theo quan niệm các vua chúa nhà Nguyễn, bảo hộ là giúp đỡ, bảo vệ, khác với đô hộ là thống trị, xem nước người ta như thuộc quốc của nước mình. Chính sách bảo hộ của nhà Nguyễn khá minh bạch. Gia Long bảo triều thần: “Bảo hộ là cốt giữ cho nước ấy được còn, chứ không phải để giám sát, cai trị nước ấy. Vậy nên hạ lệnh bọn Thuỵ (viên quan phụ trách bảo hộ Cao Miên) chớ nên can dự vào chính sự nước ấy, để cho phiên vương được tự làm việc thì lòng dân sẽ yên.”(16). Một số triều thần muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Cao Miên để đối phó dứt khoát với Xiêm. Gia Long nói: “được một nước Chân Lạp để sự lo về sau, Trẫm quyết không làm như thế”. Đó là quan điểm đúng đắn mang tầm chính trị sáng suốt, sâu sắc của ông vua giỏi.
            Vấn đề ngoại đạo:
            Nhà truyền giáo nổi tiếng nhất Nam hà bấy giờ là Bá - đa - lộc. Ông này còn mang các tên: Đức cha cả, Giám mục d’Adran, đức ông Pigneau, Pierre- Yoseph – Georges, Pigneau de Béhaine … Với tên Bi - nhu quận công, Bá - đa - lộc như một triều thần Việt Nam thứ hạng cao, chỉ sau quốc công. Ông đang long đong tại Nam Vang, được Mạc Thiên Tứ đưa đến gặp Nguyễn Ánh tại đảo Thổ Chu. Chính ở đây, năm 1784, ông hứa giúp Nguyễn Ánh cầu viện Đại Tây. Mối quan hệ bắt đầu từ đó, đôi bên tưởng chừng gắn bó keo sơn, thực chất là hai thế giới cách biệt không thể dung hoà giữa hai luồng tư tưởng - văn hoá Đông - Tây Việt – Pháp. Bá - đa – lộc âm mưu biến hoàng tử Cảnh thành con chiên ngoan đạo và tương lai sẽ là ông vua sùng tín bậc nhất phương Nam, để dân tộc Việt, tất cả đều chắp tay, cúi đầu trước cây thánh giá. Năm 1789, hoàng tử Cảnh trở về nước sau sáu năm được Bá - đa – lộc kèm cặp. Ngày giỗ gia tiên, cậu bé Cảnh không chịu vái lạy ông bà, Nguyễn Ánh hỏi Đức cha cả tại sao thầy dạy học trò quên ông bà? Bá - đa - lộc trả lời: thờ cúng ông bà, tín ông bà phù hộ con cháu sống lâu, giàu có là mê tín dị đoan. Nguyễn Ánh bảo Bá - đa – lộc: Lễ bái chỉ là để chứng tỏ con cháu nhớ ơn tổ tiên, ông bà, để đền đáp công ơn ấy, tôi nhất quyết phải giữ đạo ông bà vì đó là một trong những giáo dục căn bản của xứ tôi(17). Rồi Nguyễn Ánh đặc cử một số nho thần dạy bảo hoàng tử Cảnh theo lề lối giáo dục truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bấy giờ ở Nam hà, thế lực các giáo sỹ phương Tây rất mạnh nhưng họ đều phải lùi bước trước thái độ cứng rắn của Nguyễn Ánh kiên quyết xây dựng một quốc gia thống nhất về mọi mặt trên cơ sở truyền thống  tư tưởng - văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
            Vương triều Nguyễn thời kỳ đầu trị quốc, các vua Gia Long, Minh Mạng không bảo thủ lạc hậu đến mức phản động như người ta lầm tưởng. Họ ý thức việc cần thiết phải học tập, tiếp thụ khoa học kỹ thuật tiến bộ của văn minh thế giới để áp dụng vào thực tế Việt Nam. Chỉ có khoảng nửa thế kỷ (1802-1858) họ xây dựng vững chắc nền tảng quốc gia thống nhất, để sau đó đế quốc Pháp trong 80 năm đô hộ dù chia cắt đất nước thành ba “kỳ”, với ba chế độ chính trị khác nhau, âm mưu biến Việt Nam thành quận huyện của Đại Pháp thì Việt Nam vẫn là Việt Nam. Và năm 1945, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ kêu gọi một tiếng, cả nước đều nhất tề đứng dậy làm Cách Mạng.
            Dĩ nhiên, bên cạnh vinh quang có cay đắng, họ Nguyễn, từ chúa Nguyễn đến vua Nguyễn đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử những nhiệm vụ lịch sử giao phó mà không hoàn thành, cả những hành vi sai trái, lỗi lầm bất cứ vì nguyên nhân chủ quan hay lí do khách quan.
            Nếu tôi là nhà điêu khắc, tôi sẽ làm một pho tượng đài MẸ ĐẤT MẸ LÚA vĩ đại, dưới chân tượng, hiển nhiên khắc to hai chữ VIỆT NAM, không quên thêm một chữ “NGUYỄN”, dựng tại nơi cát địa nhất của Nam bộ, miền đất được xây đắp bằng trí tuệ,  sức lực và máu xương người Việt Nam suốt năm thế kỷ.

Thanh Hoá, ngày 20 tháng 7 năm 2008
 


 (1)Hiện núi Song Ngưu đã lùi vào đất liền xa bờ biển.
 (2) “Đại Nam thực lục” tập 1 Nhà xuất bản Giáo dục. Trang 883.
 (3) Thư của Pigneau ngày 20 tháng 3 năm 1785. Dẫn theo “Lịch sử nội chiến 1771 - 1802” của Tạ Chí Đại Trường. Nhà xuất bản Công an nhân dân trang 143.
(4) Nhà xuất bản Thế giới. Vũ Thế Dinh căn cứ sổ nhật ký của tham tướng Mạc Tử Sinh và      những điều mắt thấy tai nghe của mình để biên soạn.
 (5) “Đại Nam thực chính biên”.
 (6) Tài liệu đã dẫn.
 (7) Tạ Chí Đại Trường. Tài liệu đã dẫn.
(8) Văn Tân: “Cách mạng Tây Sơn” và nhiều tài liệu khác.
(9) Tạ Chí Đại Trường. Tài liệu đã dẫn.
(10) “Quốc triều chính biên”: dẫn theo “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn”… của Trần Văn Giàu – Nhà xuất bản Văn hoá trang 17.
 (11) “Đại Nam thực lục”, tài liệu đã dẫn trang 412-413.
 (12) Trần Văn Giàu, tài liệu đã dẫn trang 90.
 (13) “Thực lục”, tài liệu đã dẫn.
(14) “Thực Lục”, tài liệu đã dẫn.
(15) Trần Văn Giàu, tài liệu đã dẫn trang 100-119.
(16) “Thực Lục”, trang 883.
(17). Tạ Chí Đại Trường, tài liệu đã dẫn.

Mời tham khảo thêm: 
 

Nới thêm câu phép vua thua lệ làng
           




Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

TRẠNG QUỲNH, ÔNG LÀ AI ?

         Hoàng Tuấn Phổ

HTC: Sau khi đăng bài "Người Thanh Hóa dưới "nửa" con mắt của GS Ngô Đức Thịnh", bạn Trần Đức Anh-Giảng viên khoa Toán của Trường Đại học sư phạm Hà Nội có chia sẻ: "Bài viết rất thú vị, và có nhiều thông tin về Thanh Hóa, vùng đất mà người khác tỉnh như cháu còn ít biết. Bài báo nói tới truyện Trạng Quỳnh.Cháu không rõ nhân vật này là thực hư thế nào, và tác giả của truyện là ai? 
Chúng tôi có hứa với bạn Đức Anh  là Thư Phòng sẽ có bài viết của Hoàng Tuấn Phổ nói rõ hơn về nhân vật Trạng Quỳnh. Mời bạn đọc cùng tham khảo.


          Vấn đề Trạng Quỳnh thực chất là mối quan hệ giữa Trạng Quỳnh với Cống Quỳnh (hương cống Nguyễn Quỳnh) từ lâu đã tổn tâm huyết nhiều người và tốn bao giấy mực. Ý kiến họ tuy dài, ngắn, nông sâu khác nhau, cuối cùng cũng đi đến gần nhau. Giáo sư Hà Văn Tấn, trong một chuyên luận khá công phu "Trạng Quỳnh qua gia phả họ Nguyễn Thanh Hóa", ông viết ở phần kết "Tin rằng Nguyễn Quỳnh là một người giỏi văn Nôm, thích hài hước,tôi không hề có ý đồng nhất hương cống Nguyễn Quỳnh với Trạng Quỳnh dân gian. Không ai ngây thơ làm như vậy. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ tưc cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian. Đây là kiến giải đáng gọi là tiêu biểu, với cách lập luận khôn khéo, chặt chẽ, có sức thuyết phục.
Nhưng...
          Phương pháp sáng tác văn học dân gian nói chung và truyện cười dân gian nói riêng, không cho  phép đồng nhất Trạng Quỳnh với hương cống Nguyễn Quỳnh, song nỗi ám ảnh về Cống Quỳnh, một nhân vật lịch sử, không thể gạt bỏ. Vậy cái phần trăm có thật của Nguyễn Quỳnh trong truyện Trạng Quỳnh là bao nhiêu ? Hay nói cụ thể hơn, trong truyện Trạng Quỳnh, những gì thuộc về Trạng Quỳnh, những gì thuộc Nguyễn Quỳnh, những gì do dân gian sáng tác ? Kể ra, đòi hỏi một sự tách bạch như thế, thật là khó. Nhưng có khó đến nỗi không thể giải mã được chăng ?
          Bằng vào gia phả chép về sự tích, hành trạng của Nguyễn Quỳnh để khẳng định cái cốt cách hoặc cốt lõi Cống Quỳnh trong nhân vật Trạng Quỳnh là một hướng đúng. Song, phương pháp tối ưu này đã cho ta một đáp số ngoài dự kiến. Nguyễn Quỳnh trong gia phả khác hẳn, nếu không nói là hoàn toàn đối lập với Trạng Quỳnh trong truyện kể dân gian. Tuy vậy, ta chưa vội kết luận: Nguyễn Quỳnh và Trạng Quỳnh là hai con người khác nhau, không có mối liên hệ gì với nhau. Gia phả và một vài tài liệu khác, dù sao cũng đã định hình tương đối rõ nét về con người và sự nghiệp Nguyễn Quỳnh, hẳn thế nào cũng để lại dấu vết, dẫu chỉ là cái bóng rất mờ xa, mà ta không thể không nhận thấy. Rất tiếc, trong toàn bộ thiên truyện kể rất dài, có tới hơn chín mươi phần trăm là hư cấu dân gian, là "phi lịch sử", khi ta đối chiếu cuộc đời thực của Nguyễn Quỳnh. Sau đây là một số ví dụ:
          -Cống Quỳnh sinh năm 1677, mất 1748. Đoàn Thị Điểm, sinh 1705, mất 1748. Khi Quỳnh 28n tuổi, Điểm mới sinh. Và lúc ấy, Quỳnh đã làm giáo thụ huyện Thạch Thất. Thế mà có cả một "thiên tình sử" về cậu học trò Quỳnh tinh nghịch, dối trá với cô Điểm con gái cụ Bảng Đoàn.
          -Quỳnh chỉ làm quan tới chức cao nhất là tri phủ. Quỳnh không có cơ sở để mon men tới công việc đi sứ hoặc đón tiếp sứ Tàu. Hơn nữa công việc bang giao mang tính quốc thể, đâu phải là chuyện vui, trò đùa, mà Quỳnh hết "Vũ qua Bắc Hải" lại "thi vẽ rồng", thậm chí cầm quạt gõ cả vào đầu viên sứ giả nhà Thanh, Trung Quốc.
          -Quỳnh đả kích vua Lê chúa Trịnh, tính chất khá quyết liệt, đó là truyện cười dân gian, nên nội dung là những câu chuyện tưởng tượng, hoang đường. Trong thực tế, Quỳnh chỉ là quan chức thấp, sao dám và có thể đối với chúa Trịnh cứ như là chỗ bạn bè bằng vai phải lứa, muốn bông phèng thế nào cũng được.
          -Người ta kể chuyện "Trạng chết chúa cũng băng hà"y như thật, hiển nhiên cũng là chuyện bịa. Vì những năm  trước, trong và sau khi Quỳnh mất, chẳng có ông vua, ông chúa nào "băng hà".
          -Người ta cũng kể nhiều về chuyện Quỳnh đi thi, phá bĩnh trong trường thi, đả kích từ quan chí vua. Nhưng theo gia phả họ Nguyễn: Quỳnh lúc nhỏ cố chí học hành, lớn lên lặn lội hết khoa này đến khoa khác, cuối cùng đỗ hạng nhì  kỳ thi Sĩ vọng lấy làm sung sướng lắm. Nguyễn Quỳnh như vậy, cố nhiên đối lập với Trạng Quỳnh. Và chỉ có Trạng Quỳnh, nhân vật hư cấu theo đặc trưng sáng tác truyện cười dân gian mới có thể có những hành vi "coi trời bằng vung" như vậy. Bởi luật thi cử thời xưa rất nghiêm, thí sinh phạm quy có khi bị xử đến tội tử hình, huống hồ lại cả gan viết lách lăng nhăng, nói năng bậy bạ !
          -Một số mẩu chuyện thời niên thiếu của Trạng Quỳnh như: "Chữ Thái","Đầu to bằng cái bồ", "Dê đực chửa"...thể hiện trí thông minh, tính nghịch ngợm của nhân vật từ khi còn nhỏ tuổi, đãng lẽ gia phả họ Nguyễn Bột Thượng có thể chép, lại chẳng thấy để lại một mẩu cỏn con nào. Trong khi đó, ở Thái Bình, người ta coi truyện "Đố chữ Thái" của cậu bé Lê Quý Đôn, ở Nghệ Tĩnh người ta kể chuyện "Đầu người to bằng cái bồ"do ông Nguyễn Công Trứ bày trò, và chuyện "Dê đực chửa" thì dân gian không chỉ gán cho vài ba nhân vật. Tất nhiên không thể nói ai vay mượn của ai, khi chuyện đã trở thành một kiểu giai thoại chẳng của riêng ai, có thể gán ghép cho bất cứ ai, miễn là có sự tương đối phù hợp.
          Chỗ vướng mắc của nhà nghiên cứu là truyện Trạng Quỳnh được sáng tác theo phương pháp dân gian, nhưng lại sử dụng một nhân vật ít nhiều nổi tiếng (Cống Quỳnh) kèm theo địa chỉ cụ thể (Bột Thượng) làm xương sống xuyên suốt. Cho nên người ta đã cố gắng chứng minh, tìm ra mối quan hệ dây mơ rễ má giữa con người có thật ngoài đời và nhân vật hư cấu trong truyện. Giáo sư Hà Văn Tấn có công khi phát hiện tài liệu "Nam thiên lịch đại tư lược sử" nói ông NGuyễn Quỳnh sinh thời "Sở trường về văn thơ nôm và giỏi hài hước", nhưng tiếc thay, tài liệu lại không đưa ra một sáng tác thơ văn nôm nào, một câu chuyện hài hước nào của ông.
          Có một bài thơ nôm trong Truyện Trạng Quỳnh, người ta dễ tin do Nguyễn Quỳnh sáng tác, bài "Đề tượng Bà Banh" vì thời gian làm quan ở Thăng Long, ông có nhà trước chùa Bà Banh:
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây
Khen ai đẽo đá tạc nên mày
 Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt
Dưới chân đứng chéo một đôi giầy
Cởi váy phất cờ trêu ghẹo tiểu
Để đồ bốc gạo thử thanh thầy
Có thiêng sao chẳng ngồi tòa ngọc
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây !
          Thực đáng buồn...cười, khi chúng ta cũng đọc thấy một bài thơ tương tự, với nhan đề "Tượng Bà Banh" trong "Hồng Đức quốc âm thi tập":
Chốn long cung cảnh giới này
Uẩy ai đứng đầy lõa lồ thay
Miệng cười hơn hớn hoa in nhụy
Má đỏ hồng hồng tóc vén mây
Ấy rắp phất cờ trêu ghẹo tiểu
Hay toan bốc gạo thử thanh thầy ?
Chẳng lên bao điện ngồi thong thả.
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây ?
          Chắc Nguyễn Quỳnh dẫu bí đến đâu cũng không "mượn" thơ người xưa, cách mình đến hơn hai trăm năm để thay đi ba câu, sửa lại vài chữ, thế là thành thơ mình ! Chỉ có dân gian mới có cách làm như vậy và dám làm như vậy mà không sợ mắc tiếng "đạo văn" !
          Lại có một đội câu đối chọi nhau chan chát:
          Trời sinh ông Tú Cát
          Đất nứt con bọ hung
          Trong truyện kể rõ đó là ông Cát đỗ Tú tài. Nhưng học vị tú tài sang triều Nguyễn mới có. Chẳng lẽ Quỳnh chết rồi, một trăm năm sau còn sống lại để đối đáp với ông Cát tú tài ?
          Từ những ví dụ khá điển hình trên, ta có thể đặt câu hỏi trong truyện Trạng Quỳnh có bao nhiêu câu thơ, câu văn, câu đối do dân gian vay mượn, thêm bớt, sửa chữa rồi dồn lại cho nhân vật Trạng Quỳnh của họ ? Dẫu chưa làm được một bảng thống kê chính xác thì cái tài văn nôm của ông Nguyễn Quỳnh không khỏi ít nhiều người xúc phạm, nếu ta cố tình vơ vào cho ông mối quan hệ gốc gác.
          Truyện Trạng Quỳnh kếu cấu theo kiểu tập hợp, thống kê hóa  nhiều mẩu chuyện. Do đó mỗi mẩu chuyện vẫn có vị trí độc lập, sức sống riêng của nó. Sự gán ghép này bao giờ cũng lộ ra khe hở khó liền mạch. Chính những khe hở này giúp ta bóc tách những mẩu chuyện kể về những nhân vật khác mà dân gian hay người sưu tập đã đem gán ghép vào cho một nhân vật của mình: Trạng Quỳnh. Sự định hình hóa văn bản, dù chỉ là bước đầu, bao giờ cũng quan trọng trong quá trình lưu hành. Nó được bồi đắp lên mãi, để câu chuyện này thêm phong phú, hấp dẫn, để nhân vật được điển hình hóa, sống mãi trong lòng người đọc.
          Nếu trước 1945, Truyện Trạng Quỳnh được phổ biến tự nhiên, ồ ạt thì sau đó, người ta tiếp nhận nó theo tinh thần có phê phán. Không ít mẩu chuyện mà nhân vật hiện lên như một kẻ vô học, tục tĩu, tên bất nhân, mất dạy...dần dần phải lọc bỏ (Quỳnh ăn chuối, Quỳnh với bà ăn mày, Quỳnh đá bèo,v.v...) Tuy vậy, Truyện Trạng Quỳnh vốn có và mãi mãi còn đó những hạn chế do hệ tư tưởng giai cấp bình dân, do đặc  điểm của nghệ thuật gây cười trong phương pháp sáng tác dân gian. Ta không làm rõ được mối quan hệ gần hay xa giữa Trạng Quỳnh với Nguyễn Quỳnh, không tìm thấy một chút vết tích đậm, nhạt của Nguyễn Quỳnh trong Trạng Quỳnh, thì hãy để cho Trạng Quỳnh vẫn là Trạng Quỳnh và Nguyễn Quỳnh mãi mãi là Nguyễn Quỳnh. Không vì chuyện mượn họ, mượn tên mà bắt quàng luôn làm họ.
                                                                                           HTP
          -Rút từ "Trong mắt tôi"-Hoàng Tuấn Phổ-NXB Văn hóa dân tộc-2000

          -Bạn đọc quan tâm tới vấn đề này có thể tham khảo thêm bài "Ngày xuân nói chuyện Trạng"-Hoàng Tuấn Phổ-Tạp chí Văn hóa dân gian số 2/2002.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

NGƯỜI THANH HÓA

DƯỚI “NỬA” CON MẮT

CỦA GS Văn Hóa NGÔ ĐỨC THỊNH
         Hoàng Tuấn Phổ
Trên tạp chí Văn hóa dân gian số 1-2004, GS-TS Ngô Đức Thịnh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tên tuổi, đặt vấn đề nghiên cứu “Tiểu vùng văn hóa Xứ Thanh”. Ông viết:
“Không rõ có phải Xứ Thanh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, vùng đất của những “quân vương”, nên con người Xứ Thanh luôn có tâm lý “hướng thượng”, muốn thành “đầu lĩnh”, cứ có đến hai người Thanh Hóa là họ ít khi “chịu” nhau, do vậy, ở người Xứ Thanh tính cố kết địa phương có phần giảm thiểu hơn người Xứ Nghệ?”

Xưa nay, có nhiều ý kiến khái quát văn hóa Xứ Thanh. Trong đó nhân vật trung tâm là con người Việt Xứ Thanh rất đúng với cách nhìn khách quan, nghiêm túc. Dĩ nhiên chưa thật đầy đủ, nhất là ở những thời kỳ cách mạng của thời đại Hồ Chí Minh. Tuy vậy, cũng có ý  kiến trái ngược, mặc dù hiếm hoi, lạc điệu, nhưng đã nêu lên trước công luận, thành vấn đề mang tính khái quát cao. Chúng ta không thể không lưu tâm soi gương kim cổ nhìn lại mình, nhìn lại Con Người Việt Namở Thanh Hóa và Văn hóa Xứ Thanh.
Nhà sử học Phan Huy Chú viết:
“Thanh Hoa… các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho. Đến những sản vật quý, cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường; vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước” (Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, NXB Sử học, 1960).
Nhận xét về người Thanh Hóa và văn hóa Xứ Thanh, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cho rằng:
“Sĩ tử thích văn học, nông dân chăm cày cấy, thợ thì có hộ đẽo đá sở trường hơn cả, ít người buôn bán… Các huyện Tống Sơn, Nga Sơn, Ngọc Sơn (Tĩnh Gia) phong tục có phần tằn tiện vì ruộng đất xấu. Các phủ, huyện thượng du… là dân thiểu số, phong tục khác người Kinh… Duy các huyện Quảng Địa, Thạch Thành và Cẩm Thủy có biết ít nhiều văn tự” (Bản dịch tập II, NXB Khoa học Xã hội - 1970).
Năm 1889, vua Thành Thái giao nhóm sử gia Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán “trùng tu” Đại Nam nhất thống chí”, bổ sung ý kiến nhận xét con người Thanh Hóa: “Kẻ sĩ ưa chuộng văn học, đời nào cũng có anh tài; (con người) phóng khoáng, lỗi lạc, có nhiều tiết khí (tiết nghĩa, khí phách) cũng là nhờ được thanh tú của non sông. Sách Nhất thống chí của nhà Thanh (Trung Quốc) có nói: “Người ở Ái Châu (Thanh Hóa) cao điệu mà thích điều nghĩa tức là thế…”. Bản dịch sách này của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, xuất bản tại miền Nam trước 1974, được giới thiệu trân trọng Tỉnh Thanh Hóa trong “Lời nói đầu”:
“Thanh Hóa, một địa điểm tối cổ nước ta, lầ nơi nhà khảo cổ đã phát hiện những cố vật thuộc Văn hóa Đông Sơn, nhiều thắng cảnh danh lam đã làm nguồn thi cảm cho biết bao tao nhân mặc khách, lại là cổ họng hai phần Nam - Bắc, đã từng chứng kiến những chiến công hiển hách của biết bao minh quân, danh tướng cùng những nghĩa cử oanh liệt của biết bao tiết phụ, anh hùng. Bởi vậy, không những Thanh Hóa có quan hệ với lịch sử, chính trị, văn hóa riêng của nước Nam ta, mà hơn nữa lại có liên quan tới lịch sử văn minh của cả miền Đông Nam Á nữa”.
Trở lại cái nhìn người của GS văn hóa Ngô Đức Thịnh. Chúng ta không rõ người viết hướng mũi nhọn ngòi bút của mình vào Thanh Hóa thời phong kiến hay Thanh Hóa thời cách mạng ? Hình như tác giả khái quát tất cả! Tác giả nấp dưới hình thức phát vấn (thực chất là để khẳng định): “Cứ có hai người Thanh Hóa trở lên…”. Những ngôn từ “quân vương”, “hướng thượng”, “đầu lĩnh”, “chịu”… đặt trong ngoặc kép đều chứa đựng những cái cười mỉa mai, châm biếm! Sự thực, Thanh Hóa hoàn toàn không phải là vùng đất của những “quân vương” như lời tác giả. Chỉ có thể nói “Thanh Hóa là quê hương của nhiều vua chúa hay nhiều vua chúa quê quán ở Thanh Hóa”. Những “quân vương” mà GS-TS Thịnh cố ý để trong “nháy nháy” ấy là “quân vương” của cả nước, cả nước suy tôn họ, niềm tự hào chung vì họ là những anh hùng dân tộc: Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi,… những minh quân, minh chúa: Lê Thánh tông, Nguyễn Hoàng,… Từ vua chí dân quê quán ở Thanh Hóa, đều là người Việt Nam, có tốt, xấu, hay, dở ai cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Ví như Lê Quý Ly (vốn quê quán Diễn Châu-Nghệ An) bỏ họ Lê trở lại họ Hồ - Hồ Quý Ly - luôn có tư tưởng “hướng thượng”, làm “đầu lĩnh”, rồi làm “quân vương”; trước không “chịu” để giặc Minh xâm lược, sau lại quy hàng nhà Minh. Lẽ nào người Xứ Nghệ của ông Ngô Đức Thịnh cũng có “tâm lý” ấy?
Nhà nghiên cứu văn hóa viết: “Người Xứ Thanh tính cố kết địa phương có phần giảm thiểu hơn người Xứ Nghệ?” Chúng ta dám chắc ông Thịnh chỉ nói theo cảm tính, phi khoa học, dựa vào hiện tượng để đánh giá bản chất. Không có “tính cố kết” mà Triệu Thị Trinh cô gái 20 tuổi hô một tiếng vạn người theo đánh cho quân Ngô mất vía? Không có “tính cố kết” sao Lê Lợi áo vải cày ruộng đất Lam Sơn tập hợp nhân dân Xứ Thanh dựng cờ khởi nghĩa được cả nước hưởng ứng, rất nhiều danh tướng quê quán Xứ Thanh? Bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, Xứ Thanh vẫn là Xứ Thanh thống nhất lãnh thổ, đoàn kết dân tộc, phát huy truyền thống văn minh sông Mã, xây dựng nền văn hóa địa phương giàu sắc thái Xứ Thanh…
Nhớ lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những đội nữ dân quân Nam Ngạn - Hàm Rồng, Hoa Lộc, Thanh Thủy, đội lão dân quân Hoằng Trường, đội dân quân 94 bến phà Ghép, v.v… nếu đúng như lời ông Thịnh nói: “cứ có đến hai người Thanh Hóa trở lên là họ ít khi “chịu” nhau”, chắc chắn đã không thể có những nữ chỉ huy Nguyễn Thị Hằng, chiến sĩ vác đạn Ngô Thị Tuyển, đã không thể hạ gục những “con ma”, “thần sấm” Hoa Kỳ, khiến năm châu kính phục?
Tính “cố kết địa phương”, quan niệm cho đúng là tinh thần đoàn kết vững chắc (chú ý chữ “cố”) của nhân dân, của địa phương vì lợi ích chung nhân dân, dân tộc. Nhưng "cố kết" theo cách ông Thịnh suy nghĩ rất dễ bị nghiêng lệch thành tính cục bộ địa phương, bè cánh, thành kiểu "nhóm lợi ích" tai hại. Bởi lẽ thông thường, đoàn kết không loại trừ đấu tranh, nếu đấu tranh để đoàn kết tốt hơn, càng bền chặt hơn. Lẽ nào như thế là không “chịu nhau”?
Trở lại mệnh đề “Không rõ có phải Xứ Thanh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, vùng đất của những “quân vương”… Cũng như từ “quân vương”, cụm từ “địa linh nhân kiệt”, tác giả đều cố ý đặt trong “nháy nháy”. Tôi không tranh luận về Thanh Hóa có phải là vùng đất “địa linh nhân kiệt” không? Nhưng tôi dám chắc cụm từ “địa linh nhân kiệt” hoàn toàn không phải do người Thanh Hóa “vỗ ngực xưng danh”. Cũng không phải nhà sử học quê quán Xứ Nghệ Phan Huy Chú quá đề cao khi viết “Dư địa chí” về Thanh Hóa trong bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí”. Trước Phan Huy Chú đến gần 200 năm, Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính (quê Xứ Bắc) đã dùng các cụm từ “Địa linh nhân kiệt”, “Địa linh dân quảng” để nói về một vùng đất “sáng” của huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong thần tích, ngọc phả vị thần thượng đẳng “Linh Quang” của xã Yên Lãng và làng Nam Cai.
Nguyễn Thượng Hiền quê làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa (Hà Nội) sinh năm 1868, mất năm 1925, là nhà thơ yêu nước, đồng thời là chí sĩ cách mạng, trong thời gian sống ở Thanh Hóa, sáng tác nhiều thơ văn. Bài Hát nói Thanh Hoa cảnh vật, ông viết:
Nhân kiệt địa linh thiên cổ tại,
Cảnh thanh vật sắc tứ thời tân.
Nghĩa là: Đất thiêng sinh hào kiệt nghìn xưa ở chốn này, cảnh đẹp vật quý bốn mùa luôn đổi mới.
Sự thật lịch sử vẫn là lịch sử không ai có thể đổi khác. Hồi kháng chiến chống Pháp, nhiều văn nghệ sĩ ngoài Bắc, trong Nghệ học tập, công tác ở Thanh Hóa, nhiều đồng bào khu Ba, Hải Phòng, Hà Nội tản cư vào Thanh Hóa đều ghi nhận tấm lòng thơm thảo của bà con Xứ Thanh. Thành phố Thanh Hóa không ít gia đình quê gốc các tỉnh miền ngoài tản cư từ thời ấy ở lại sinh cơ lập nghiệp, con cái họ trưởng thành, đủ tài đức được bầu cử vào các cấp lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ và chính quyền.
Hoàn toàn đúng như ý kiến của nhóm sử gia Cao Xuân Dục viết về Thanh Hóa: “Phóng khoáng lỗi lạc có nhiều khí tiết”, theo cách nói của Sử gia nhà Thanh, Trung Quốc là “cao điệu mà thích điều nghĩa”.
Thiên hạ cứ tưởng người Thanh Hóa đất vua chúa thì đặc phong kiến, bảo hoàng hơn cả vua. Sự thật lại khác hẳn. Chúng ta có thể đưa ra nhiều dẫn chứng từ “tiểu tiết” đến “đại sự”. Ví dụ, trong khi người Bắc kiêng tên húy chúa Trịnh Tráng, gọi bánh tráng là “bánh đa”, người Thanh Hóa vẫn giữ cái tên “bánh tráng”, hoặc chữ “Thì” tên húy vua Tự Đức, cả dòng họ Ngô Thì lừng danh đất Bắc cũng phải đổi thành “Ngô Thời” (Ngô Thời Sĩ, Ngô Thời Nhiệm tức Nhậm…) mà dân Xứ Thanh  của vua Nguyễn ai muốn nói “thì” hay “thời” đều được cả. Nói chung ở đây khá phổ biến từ “thì”. Ví dụ: món ăn: Bụi thì (bữa ăn phụ), thành ngữ: “Ăn xổi ở thì”, “Gái có lứa mạ có thì”, tục ngữ “Người ăn, người bỏ, người đi, ta ăn, ta ở cùng thì hôm mai”, v.v…
Thế kỷ XVI, nhân dân Thanh Hóa gây dựng nên vương quyền vua Lê chúa Trịnh, đến thế kỷ XVIII, cũng chính nhân dân Thanh Hóa lại hạ bệ cùng lúc cả hai thần tượng ấy bằng kiệt tác trào phúng Truyện Trạng Quỳnh. Cống Quỳnh một nhà nho thi đỗ nhưng không làm quan, lĩnh sứ mạng viên tướng tiên phong “công phá” thành trì phong kiến, “đánh thẳng” vào hoàng cung, nơi vua chúa ăn chơi “mầm đá”, hưởng lạc “ngọa sơn”!
Tính “phong kiến” của Thanh Hóa còn bị phê phán: Chỉ ở Thanh Hóa mới có chuyện ngược đời đàn ông ở nhà bế con hoặc đình đám, chè rượu, phó mặc đàn bà việc ruộng đồng cấy hái quanh năm vất vả. Sự thực, không phải chỉ riêng Thanh Hóa. Sách Đại Namnhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), về tỉnh Hà Nội, mục “Phong tục”, viết khá rõ: “Những tháng làm ruộng, đàn ông hay uống chè uống rượu ở quán hàng, việc cày cấy đều về tay phụ nữ”. Như vậy, người Hà Nội cũng “phong kiến” đấy chứ?
Việc nhà cửa, ruộng đồng đều giỏi giang là ưu điểm của phụ nữ Thanh Hóa trong đức tính chung cần cù, tần tảo của phụ nữ Việt Nam. Truyền thống ấy được phát huy mạnh mẽ trong phong trào “ba đảm” thời kháng chiến chống đế quốc xâm lược, Thanh Hóa là hậu phương cũng là chiến trường. Tiếng gươm đao, súng đạn và khói lửa cuốn đi hầu hết đàn ông Xứ Thanh vào các cuộc khởi nghĩa, nội chiến, Nam tiến liên miên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, góp phần quan trọng tạo nên những đức tính hiếm có của phụ nữ. Phụ nữ sẵn sàng gánh vác mọi việc để chồng con chuyên tâm việc làng việc nước, cho nên sĩ tử chăm học, đời nào cũng có văn tài, cho nên đàn ông nhiều “tiết nghĩa, khí phách” sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.
Sách Địa chí xưa nói: Thanh Hóa chất đất xấu, kỹ thuật làm ruộng kém nên ít thóc. Chất đất xấu là đúng rồi vì Xứ Thanh lắm đồi nhiều núi, 6 huyện miền biển độ chua phèn rất cao. Tuy nhiên cũng có nơi lúa tốt nổi tiếng, như huyện Nông Cống, thời phong kiến triều đình đặt tới Tứ ty Tinh Mễ để thu thóc và một làng, làng Tinh Mễ Sở chuyên sản xuất gạo ngon tiến vua. Sau năm 1945, thời cách mạng và kháng chiến, anh hùng lao động Nguyễn Công Thiệp dẫn đầu phong trào tăng gia sản xuất, dùng phân bón cải tạo đất chua phèn, biến đồng cỏ năn thành đồng lúa 2 vụ. Năm 1957 ông Thiệp được tặng thưởng Huân chương Lao động. Qua năm sau, ông đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc, rồi được bầu đại biểu Quốc hội khóa 3, khóa 4. Trong kháng chiến chống Mỹ, Thọ Xuân từ một huyện “đất xấu dân nghèo” trở nên điển hình sản xuất nông nghiệp với các lá cờ đầu: Thắng Lợi - Xuân Thành, Hạnh Phúc, Đông Phương Hồng. Hợp tác xã Thắng Lợi - Xuân Thành một ngõ hai anh hùng nông nghiệp: Trịnh Xuân Bái, Lê Ngọc Đồng. Hợp tác xã Định Công, huyện Yên Định, được nhiều địa phương trên miền Bắc đến tham quan, học tập kinh nghiệm sản xuất. Huyện miền biển Quảng Xương, quê hương anh hùng lao động nông nghiệp Nguyễn Công Thiệp cũng có hai lá cờ đầu miền Bắc: Đội thủy lợi hợp tác xã Bình Hòa và điển hình chăn nuôi xã Quảng Hải.
Đến nay những dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, mọi người đều không quên công lao đóng góp to lớn của Thanh Hóa về lương thực do chính người Xứ Thanh kìn kìn chuyển ra tiền tuyến trong mùa chiến dịch, nô nức như mùa xuân trẩy hội.
Đọc lại các trang địa chí cổ, đời nào cũng thấy ghi chép: Nhà nông chăm cày cấy, sĩ tử chăm học hành, người làm ruộng nhiều, người đi học không ít. Liệu chúng ta có phóng đại quá chăng, khi nói “Đất Thanh đất học”? Cố nhiên người Việt Nam đều hiếu học. Nhưng ở đây chúng ta đang “luận” về người Việt Xứ Thanh. Các nhà sử học Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục,… đều có ý kiến nhận xét giống nhau: Kẻ sĩ ưa chuộng văn học, đời nào cũng có văn tài. Dĩ nhiên, các tác giả phải căn cứ lịch sử. Những sử liệu rất đáng tin cậy: Cựu Đường thư (Trung Quốc), Văn hiến thông khảo (Trung Quốc), An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Viện Sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, v.v… đều chép: Khương Công Phụ người quận Cửu Chân (hay Ái Châu - Thanh Hóa) làm quan ở nhà Đường, đậu Tiến sĩ, bổ làm Hiệu thư lang, vì có bài chế sách hơn người, vua Đường cho làm Hữu thập di, Hàn lâm học sĩ, kiêm chức kinh Triệu Hộ tào tham quân, sau thăng đến Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự (dưới Tể tướng). Em Công Phụ là Công Phục cũng đỗ tiến sĩ thời Đường Đức tông (1780-1805) làm tới Thị lang Bộ Lễ. Như vậy, người Xứ Thanh dự hàng khoa bảng đỗ đại Khoa rất sớm, từ thế kỷ VIII (tất nhiên phải thi ở Trung Quốc, vì nước ta đầu đời Trần (thế kỷ VIII) mới định khoa thi tam giáp).
Nhà sử học Lê Văn Hưu người thôn Phủ Lý, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) được vinh danh “Ông tổ Sử học Việt Nam”. Huyện Đông Sơn cũng là quê hương của hai sử gia tên tuổi: Lê Tắc, Lê Hy.
Về văn học, thi phẩm sớm nhất còn truyền là bài “Tiễn Lý Giác” của Ngô Chân Lưu cùng quê Ái Châu với vua Lê Đại Hành.
Lê Thánh tông, cháu nội Lê Thái tổ, vị minh quân nổi tiếng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, cũng là nhà văn hóa lớn Việt Namcó tầm vóc thế giới.(1)
Giữa thế kỷ XVI, Nguyễn Hoàng từ biệt đất tổ Gia Miêu Ngoại trang (Hà Trung, Thanh Hóa) vâng lệnh vua Lê Trung hưng trấn thủ xứ Thuận Hóa, mở đầu sự nghiệp Nam tiến, vô cùng gian khổ, nhưng hết sức vinh quang, mở rộng cõi bờ đến tận vịnh Hà Tiên giáp Thái Lan, để bản đồ tổ quôc Việt Nam có thêm nửa phần đất nước…
Phải chăng những bậc vĩ nhân, những đấng anh hùng quê quán Xứ Thanh, mang danh người Việt Xứ Thanh đều có “tâm lý hướng thượng”, ai cũng muốn “thành đầu lĩnh”, cho nên họ được sử sách ca ngợi, hậu thế nêu gương ???
Từ thuở Hùng Vương dựng nước, Xứ Thanh đã bắt đầu được định hình, cộng đồng Lạc Việt chưa chia ra người Mường, người Kinh, cùng uống nước sông Mã, cày ruộng đồng sác (Lạc điền) cùng xây nên những núi Rồng, núi Voi đỉnh cao văn minh Đông Sơn rực rỡ. Do những điều kiện lịch sử, hoàn cảnh địa lý, cộng đồng Lạc Việt như cây cả phân cành nhưng vẫn chung cội nguồn dân tộc. Xứ Thanh trong khoảng thời gian 20 thế kỷ từ sau Công nguyên, đèo cao suối sâu không hề ngăn trở bước chân du cư đồng bào trong ra, ngoài vào. Người Thái, người Dao, H’Mông, Khơ Mú… dẫu xa xôi vạn dặm lặn ngòi ngoi nước tìm đến Xứ Thanh đều thấy ở đây miền đất sống. Họ gia nhập gia đình Lạc Việt ngày càng đông vui. Tình đoàn kết thống nhất của đại gia đình Xứ Thanh không ngừng củng cố.
Thời Hùng Vương - An Dương vương, Cửu Chân là một bộ khổng lồ trong 15 bộ, theo truyền thuyết. Triệu Đà cướp chiếm Âu Lạc (Tây Âu + Lạc Việt) chia nước ta làm 2 quận, Cửu Chân là một. Kẻ thù xâm lược không thể chia đôi dòng sông Mã trải qua ngàn năm Bắc thuộc. Thời phong kiến tự trị, Xứ Thanh đã có lúc bị chia đôi. Đó là năm Nhâm Thìn (1532), Mạc Đăng Doanh (con Mạc Đăng Dung) sai viên quan hoạn Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất cai quản cả xứ Thanh Hoa. Sau nghe lời gièm của Tây An bá Lê Phi Thừa, chia Thanh Hoa ra làm hai: Bảy huyện: Thụy Nguyên, Yên Định, Vĩnh Phúc, Đông Sơn, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng Bình giao cho Lê Phi Thừa cai quản, còn các huyện Tống Sơn, Hậu Lộc, Nga Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia thuộc quyền Dương Chấp Nhất. Nhưng khi vua Lê Trung tông lên làm vua ở Ai Lao, Phi Thừa đem bảy huyện dâng nhà Lê Trung hưng. Năm Quý Mão (1543), Triệu tổ Nguyễn Kim đem quân về bình định Thanh Hoa, Dương Chấp Nhất quy hàng, Thanh Hoa lại hợp nhất.
Sự ổn định về lãnh thổ hành chính, tất yếu tổ chức chính trị chung một guồng máy, trạng thái tâm lý xã hội, tính cách con người dễ hòa hợp trong một cộng đồng… là điều kiện để văn hóa đơm hoa, kinh tế kết trái, mùa xuân quê hương sinh sôi giữa mùa xuân đất nước. Đó là sắc thái Xứ Thanh, sắc thái của một vùng quê Việt Nam không thể lẫn với vùng quê khác, dệt nên Tinh hoa văn hóa Xứ Thanh với truyền thống núi Đọ, Đông Sơn, Hàm Rồng… đoàn kết bền vững, đa dạng thống nhất, mạch nguồn không ngừng tuôn chảy cuồn cuộn như dòng sông Mã vạn cổ hùng thiêng.(2)
Hoàng Tuấn Phổ

Chú thích
(1)Ở đây chưa có điều kiện đề cập đến những tác giả rất quan trọng thời kỳ Trung, Cận đại như Lê Quát, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Hiến tông, Trịnh Sâm, Nhữ Bá Sĩ,… Đặc biệt thời kỳ Hiện đại và Đương đại, Xứ Thanh cũng có những đóng góp xuất sắc trên mặt trận văn hóa văn nghệ, trong đó nổi lên những gương mặt tiêu biểu: Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Thôi Hữu, Hữu Loan, Nguyễn Thế Phương, Mã Giang Lân, Vương Anh, Mai Ngọc Thanh, Đặng Ái, Từ Nguyên Tĩnh, Huy Trụ, Viên Lan Anh, Nguyễn Minh Khiêm,...
(2)Trích Tổng luận “Tinh hoa văn hóa xứ Thanh”-sách chưa in. Đầu đề do Hoàng Tuấn Công đặt.