| CÁCH HỌC 214 BỘ THỦ CHỮ HÁN 1. MỘC (木) - cây, THỦY (水) - nước, KIM (金) - vàng 2. HỎA (火) - lửa, THỔ (土) - đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) - trời 3. XUYÊN (川) - sông, SƠN (山) - núi, PHỤ (阜) - đồi 4. TỬ (子) - con, PHỤ (父) - bố, NHÂN (人) - người, SỸ (士) - quan 5. MIÊN (宀) - mái nhà, HÁN (厂) - sườn non 6. NGHIỄM (广) - hiên, HỘ (戶) - cửa, cổng - MÔN (門), LÝ (里) - làng 7. CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang 8. TỊCH (夕) - khuya, THẦN (辰) - sớm (4), Dê – DƯƠNG (羊), HỔ(虍) - hùm 9. NGÕA (瓦) - ngói đất, PHẪU (缶) - sành nung 10. Ruộng - ĐIỀN (田), thôn - ẤP 邑 (5), què - UÔNG (尢), LÃO(老) - già 11. DẪN 廴- đi gần, SƯỚC 辶 - đi xa 12. BAO 勹 - ôm, TỶ 比 - sánh, CỦNG 廾 - là chắp tay 13. ĐIỂU 鳥 - chim, TRẢO 爪 - vuốt, PHI 飛 - bay 14. TÚC 足 - chân, DIỆN 面 - mặt, THỦ 手 - tay, HIỆT 頁 - đầu 15. TIÊU 髟 là tóc, NHI 而là râu 16. NHA 牙 - nanh, KHUYỂN 犬 - chó, NGƯU 牛- trâu, GIÁC 角 - sừng 17. DỰC 弋 - cọc trâu, KỶ 己 - dây thừng 18. QUA 瓜 - dưa, CỬU 韭 - hẹ, MA 麻 - vừng, TRÚC竹 - tre 19. HÀNH 行 - đi, TẨU 走 - chạy, XA 車 - xe 20. MAO 毛 - lông, NHỤC 肉 - thịt, Da 皮 - Bì, CỐT 骨 - xương. 21. KHẨU (口) là miệng, Xỉ (齒) là răng 22. Ngọt CAM 甘, mặn LỖ 鹵, dài TRƯỜNG 長, kiêu CAO 高 23. CHÍ (至) là đến, NHẬP (入) là vào 24. BỈ (匕) môi, CỮU (臼) cối, ĐAO (刀) dao, MÃNH (皿) bồn 25. VIẾT (曰) rằng, LẬP (立) đứng, lời NGÔN (言) 26. LONG (龍) rồng, NGƯ (魚) cá, QUY (龜) con rùa rua` 27. LỖI (耒) cày ruộng, TRỈ (黹) thêu thùa HUYỀN (玄) đen, YÊU (幺) nhỏ, MỊCH (糸) tơ, HOÀNG (黃) vàng 29. CÂN (斤) rìu, THẠCH (石) đá, THỐN (寸) gang 30. NHỊ 二 hai, BÁT 八 tám, PHƯƠNG 方 vuông, THẬP 十 mười 31. NỮ (女) con gái, NHÂN (儿) chân người 32. KIẾN (見) nhìn, MỤC (目) mắt, XÍCH (彳) dời chân đi 33. Tay cầm que gọi là CHI (支 ) 34. Dang chân là BÁT (癶), cong thì là Tư (厶) 35. Tay cầm búa gọi là THÙ (殳) 36. KHÍ (气) không, PHONG (風) gió, VŨ (雨) mưa, TỀ (齊) đều 37. LỘC (鹿) hươu, MÃ (馬) ngựa, THỈ (豕) heo 38. Sống SINH (生), LỰC (力) khoẻ, ĐÃI (隶) theo bắt về 39. VÕNG (网) là lưới, CHÂU (舟) thuyền bè 40. HẮC (黑) đen, BẠCH (白) trắng, XÍCH (赤) thì đỏ au 41. Thực (食) đồ ăn, Đấu (鬥) đánh nhau 42. Thỉ (矢) tên, Cung (弓) nỏ, Mâu (矛) mâu, Qua (戈) đòng 43. Đãi (歹) xương, Huyết (血) máu, Tâm (心) lòng 44. Thân 身 mình, Thi 尸 xác, Đỉnh 鼎 chung, Cách 鬲 nồi 45. Khiếm (欠) thiếu thốn, Thần (臣) bầy tôi 46. Vô (毋) đừng, Phi (非) chớ, Mãnh (黽) thời ba ba 47. Nhữu (禸) chân, Thiệt (舌) lưỡi, Cách (革) da 48. Mạch (麥) mỳ, HÒA (禾) lúa, Thử (黍) là cây ngô 49. Tiểu (小) là nhỏ, Đại (大) là to 50. Tường 爿 giường, Suyễn 舛 dẫm, Phiến 片 tờ, Vi (韋) vây 51. TRỈ (夂) bàn chân, TUY (夊) rễ cây 52. TỰ (自) từ, TỴ (鼻) mũi, NHĨ (耳) tai, THỦ (首) đầu. 53. THANH (青) xanh, THẢO (艹) cỏ, SẮC (色) màu 54. TRĨ (豸) loài hổ báo, KỆ (彑) đầu con heo. 55. THỬ (鼠) là chuột, rất sợ mèo 56. Hương 香 thơm, Mễ 米gạo, Triệt 屮 rêu, Dụng 用 dùng. 57. ĐẤU (斗) là cái đấu để đong 58. Chữ CAN (干) lá chắn, chữ CÔNG (工) thợ thuyền. 59. THỊ (示) bàn thờ cúng tổ tiên, 60. NGỌC (玉) là đá quý, BỐI (貝) tiền ngày xưa. 61. ĐẬU (豆) là bát đựng đồ thờ 62. SƯỞNG (鬯) chung rượu nghệ, DẬU (酉) vò rượu tăm. 63. Y (衣) là áo, CÂN (巾) là khăn 64. HỰU (又) bàn tay phải, CHỈ (止) chân tạm dừng. 65. ẤT (乙) chim én, TRÙNG (虫) côn trùng 66. CHUY(隹) chim đuôi ngắn, VŨ (羽) lông chim trời. 67. QUYNH (冂) vây 3 phía bên ngoài 68. VI (囗) vây bốn phía, KHẢM (凵) thời hố sâu 69. PHỐC (攴) đánh nhẹ, THÁI (采) hái rau 70. KỶ (几) bàn, DUẬT (聿) bút, TÂN (辛) dao hành hình. 71. VĂN (文) là chữ viết, văn minh 72. CẤN (艮) là quẻ Cấn, giống hình bát cơm. 73. Ma là QUỶ (鬼), tiếng là ÂM (音), 74. CỔ (鼓) là đánh trống, DƯỢC (龠) cầm sáo chơi. 75. THỊ (氏) là họ của con người, 76. BỐC (卜) là xem bói, NẠCH (疒) thời ốm đau. 77. Bóng là SAM (彡), vạch là HÀO (爻) 78. Á (襾) che, MỊCH (冖) phủ, SƠ (疋) ĐẦU (亠) nghĩa nan. 79. SỔ (丨) PHẾT (丿) MÓC (亅) CHỦ (丶) nét đơn, 80. HỄ 匸 PHƯƠNG 匚BĂNG 冫 TIẾT 卩, thì dồn nét đôi. 81. VÔ (无) là không, NHẤT (一) mộ thôi 82. Diễn ca bộ thủ muôn đời không quên. |
Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
ĐỪNG HIỂU SAI LỜI CỔ NHÂN
HOÀNG TUẤN CÔNG
![]() |
| Trần Tử Ngang (661-701) |
Trên tạp chí Xứ Thanh số 35 (6-1998) có bài "Tiểu thuyết Thanh Hoá" của nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn. Cũng trên tạp chí này số 36 (7-1998) lại đăng bài "Trao đổi cùng nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn (Nhân đọc bài "Tiểu thuyết Thanh Hoá" - xứ Thanh số 36 (6-1998) của nhà văn Nguyễn Văn Đệ. Ở cả hai bài "trao" và "đổi" nói trên các tác giả đã viện dẫn khá nhiều văn, thơ, nhiều câu nói có tính chất "kinh điển" của người xưa để củng cố thêm ý kiến của mình.
Xin nói ngay rằng tôi không tham gia bàn tới vấn đề lớn mà hai nhà văn họ Nguyễn đang quan tâm. Tuy nhiên, trong khi trích dẫn và phân tích, cả hai bài viết đều không trích dẫn đúng và hiểu sai lời, ý của các bậc tiền thánh, danh nhân như: Lê Quý Đôn, Khổng Tử, Trần Tử Ngang, Lão Tử v.v...Xin có đôi dòng trao đổi.
Xin nói ngay rằng tôi không tham gia bàn tới vấn đề lớn mà hai nhà văn họ Nguyễn đang quan tâm. Tuy nhiên, trong khi trích dẫn và phân tích, cả hai bài viết đều không trích dẫn đúng và hiểu sai lời, ý của các bậc tiền thánh, danh nhân như: Lê Quý Đôn, Khổng Tử, Trần Tử Ngang, Lão Tử v.v...Xin có đôi dòng trao đổi.
Trong bài "Tiểu thuyết Thanh Hoá" ông Nguyễn Ngọc Liễn cho rằng: "Lê Quý Đôn viết: "Nếu mắt chưa nhình thấy được trăm sông ngàn núi, nếu bụng chưa chứa được hàng ngàn pho sách thì khoan hãy viết văn". Không biết nhà văn N.N.L trích dẫn ở đâu, theo tài liệu nào, nhưng theo sách "Vân Đài Loại Ngữ", câu nói đó của ông Ngô Lai bên Tàu, Lê Quý Đôn chỉ là người chép lại trong sách ấy mà thôi. Hơn nữa nguyên văn câu nói của Ngô Lai cũng không tầm thường như nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn nhầm lẫn. Xin trích lại Ngô Lai nói: "Trong bụng không có được ba vạn quyển sách, trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì chưa chắc đã làm được văn" (1) (H.T.C nhấn mạnh). Rõ ràng việc nhìn thấy "núi sông kỳ lạ của thiên hạ" theo ý của Ngô Lai rất khác với “trăm sông ngàn núi" mà N.N.L trích dẫn. Đâu phải nhà văn cứ đi nhiều, nhìn thấy nhiều là được. Vấn đề (như ý của Ngô Lai nói) là đi đâu và nhìn thấy gì ? Ngô Lai cũng không chủ quan khuyên người ta: "Khoan hãy cầm bút viết văn", ông chỉ nghi ngờ hiệu quả công việc của người cầm bút "chưa chắc đã làm được văn" mà thôi. Người xưa nói và viết thận trọng là vậy đó ! Lê Quý Đôn - tác giả "Vân Đài Loại Ngữ" - Người trong bụng đã "có được ba vạn quyển sách" trong mắt đã "có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ" nếu biết chuyện này ông nghĩ gì ?
Tiếp đến bài "Trao đổi cùng nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn" nhà văn Nguyễn Văn Đệ viết: "đức Khổng tử nói rằng: "Nhân sinh thất thập nhi tòng tâm sở dục" (Người sống bảy mươi tuổi đã làm được cái điều mình muốn làm)". Nếu cứ hiểu theo ý của câu trích dịch đó thì: Sống đến bảy mươi tuổi người ta đã làm được những điều muốn làm (cần làm) trong cuộc đời hoặc người ta có thể làm được mọi điều nếu người ta muốn (!). Lẽ nào Khổng tử lại phát ngôn một cách chủ quan và hồ đồ như vậy ? Nhà văn Nguyễn Văn Đệ không ghi xuất xứ câu nói của Khổng tử, nhưng theo tôi, câu nói trên ở trong sách "Luận Ngữ". Tuy nhiên nguyên văn của nó rất khác. Đó là về lúc cuối đời, Khổng tử thuật lại theo thứ tự trình độ học đạo và tu thân của ngài. Ở đây chỉ xin trích lại hai câu Khổng tử nói về độ tuổi 15 và bảy mươi của ngài. Đức Khổng tử nói rằng: "Ngô thập hựu ngũ, nhi chí vu học" (Hồi mười lăm tuổi, ta đã để hết tâm trí vào sự học) và "thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ" (Được bảy mươi tuổi, trong tâm trí ta dù có muốn sự chi cũng chằng hề trái phép) (2). Trích dẫn như nhà văn Nguyễn Văn Đệ thì thừa 2 chữ "nhân sinh" và thiếu hẳn cụm từ quan trọng "bất du củ" (không vượt qua phép tắc). Không thể tự ý thêm hai chữ "nhân sinh" (nghĩa là con người ta sống ở đời nói chung) được. Bởi vì Khổng tử thuật lại quá trình học đạo, tu thân của chính ngài chứ không ai khác. Chỉ có đức thánh Khổng - người mới mười lăm tuổi "đã để hết tâm trí vào sự học" thì bảy mươi tuổi mới có khả năng phân biệt được mọi sự hay, dở, chính, tà, để "dù có muốn sự chi cũng chẳng hề trái phép". Người đời đâu phải cứ sống qua tuổi bảy mươi là có được khả năng như đức thánh Khổng?
Nhà văn Nguyễn Văn Đệ viết tiếp: "Ngày xưa đời nhà Đường ông Trần Tử Ngang viết:
"Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chỉ du du
Độc thương nhiên nhi thế hạ"
Ý ông Trần Tử Ngang nói rằng: "Vô tiền khoáng hậu" (trước sau không có ai cả). Ấy thế mà nghìn năm sau chúng ta cẫn thấy các thi nhân đời Đường như ông Lý Bạch, ông Bạch Cư Dị, ông Đỗ Phủ có kém gì ông Trần Tử Ngang không?".
Mới đọc qua đoạn văn trên tôi ngờ ngợ. Đọc lại thì giật mình ! Hiểu như vậy quả là oan cho Trần Tử Ngang thi nhân lắm lắm ! Ý thơ Trần Tử Ngang, con người Trần Tử Ngang đâu có vậy ? Tại sao mới chỉ qua 2 câu thơ đầu "Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả" đã vội "thâu tóm" nội dung toàn bài: "ý ông Trần Tử Ngang nói rằng "Vô tiền khoáng hậu" rồi chụp ngay cho nhà thơ cổ khả kính cái mũ "cao ngạo" văn chương của ai đó?
Thực tế, thơ và đời của Trần Tử Ngang không hề có sự cao ngạo tới mức tự xem mình là "vô tiền khoáng hậu". Trần Tử Ngang (661-701) sống ở thời kỳ sơ Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm hai mươi tuổi, làm quan dưới thời Võ Hậu, nhiều lần dâng sớ can gián nhà vua, hai lần tham gia cuộc chiến tranh biên tái chống ngoại tộc. Ở triều hơn mười năm, ông tỏ ra bất đắc chí và nhân cớ cha già, xin lui về ở ẩn. Sau bị tên huyện lệnh hãm hại chết trong ngục ở độ tuổi bốn mươi hai, để lại 120 bài thơ. Chính ông là người có công giương cao ngọn cờ cách tân trong thơ ca. Ông cực lực bài xích thơ Tề Lương và đề xướng học tập phong cốt Hán, Ngụy, đặc biệt là phong cách thơ Kiến An (Niên hiệu Hán Hiến Đế 196 - 220). Văn trào này có lãnh tụ là ba cha con họ Tào, dưới nữa có "Kiến An thất tử" (...) Như vậy, Trần Tử Ngang là người chủ trương học tập văn chương của người xưa đấy chứ ? Hơn nữa, trong bài tựa "Tu trúc thiên" của Đông Phương Cầu, ông còn viết: "Bài Vịnh công đồng của ngài cốt cách sáng sủa, điêu luyện, nghe có tiếng chuông khánh". Nếu là người "cao ngạo", nhất là "cao ngạo" trong văn chương ở mức "vô tiền khoáng hậu" thì người ta đâu có biết đến văn chương của ai, nói gì đến việc học tập tiền nhân, ngưỡng mộ kẻ khác ? Thực ra 4 câu thơ của Trần Tử Ngang mà nhà văn Nguyễn Văn Đệ viện dẫn trên chính là bài "Đăng U Châu Đài Ca" - một tâm sự hoài cổ u buồn, cô đơn của kẻ bất đắc trí, khi một mình bước lên thăm đài U Châu, giữa vắng vẻ, mênh mang đất trời. Xin trích dịch:
Đăng U Châu Đài Ca
Tiến bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên dịa chỉ du du
Độc thương nhiên nhi thế hạ
Dịch nghĩa:
Bài ca lên đài U Châu
Trước không thấy người xưa
Sau không thấy kẻ sắp đến
Nghĩ trời đất mênh mang không cùng
Một mình bùi ngùi nhỏ nước mắt (3)
Cuối cùng, tôi xin được nói vài lời về hai chữ "vô vi" theo cách hiểu của hai nhà văn họ Nguyễn:
Nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn cho biết ông "không từng trải lắm về cuộc đời. Phẳng lặng và yên ả, cộng thêm một chút vô vi". Nhà văn Nguyễn Văn Đệ "đối ngôn": "Chà, sao bác đọc Lão tử hời hợt thế ? Đức Lão Tử xưa vốn vô vi và phiêu diêu. Người vẫn cười khẩy với quan trường, với những thế lực lớn dễ động trời động đất trong thiên hạ". (Xin lưu ý luôn rằng chữ "tử" trong Khổng tử, Lão tử mà viết hoa như nhà văn Nguyễn Văn Đệ là không đúng). Thực tình tôi không biết trong hai nhà văn, ai là người đọc Lão tử một cách "hời hợt" hơn ai ? Chỉ xin lưu ý không nên hiểu "vô vi" trong học thuyết của Lão tử một cách giản đơn, trần trụi và tầm thường như vậy. "Vô vi" của Lão tử đâu phải là "không làm gì", chấp nhận sự "yên thân" ? Cũng không phải là "cười khẩy với quan trường, với những thế lực lớn dễ động trời trong thiên hạ"! "Vô vi" trong học thuyết của Lão tử chính là sự tôn trọng quy luật tự nhiên, không làm trái với "đạo của thiên nhiên” (4). Tuân theo quy luật của tự nhiên là "đạo" (vô vi). Đó là nền tảng của toàn bộ học thuyết Lão tử, cũng là cơ sở lý luận trị nước của Lão tử. Thuyết "vô vi" của Lão tử chỉ nhằm chống lại những hành động trái với "đạo" (như tiến hành chiến tranh, áp bức bóc lột v.v...) chứ không phải chống lại hành động, việc làm nói chung của con người. Chính Lão tử là con người của hành động, việc làm tích cực. Thánh nhân chân chính theo sự "vô vi" mà Lão tử nói là người cần cù lao động "suốt ngày hành động mà không khỏi việc nặng nề" (chương 26 - Đạo đức kinh). Ông căm thù sâu sắc bọn áo bức bóc lột và đồng tình, tha thiết yêu thương nhân dân lao động. Trong "Đạo đức kinh" ông cảnh cáo những kẻ bóc lột, thống trị giàu có rằng: "Nếu nhân dân không sợ chết, thế thì sao lại lấy cái chết để uy hiếp họ? Cưỡng bách nhân dân mà lấy đó làm thú vị, người như thế ta cần bắt họ và giết họ" (chương 74). Lão tử, trên nguyên tắc thì phản đối chiến tranh, nhưng cũng chủ trương chiến tranh phòng ngự trong lúc bất đắc dĩ: "Binh khí tốt là đồ không lành, không phải là đồ của người quân tử, bất đắc dĩ mà phải dùng" (chương 31)(5).
Lão tử gọi bọn thống trị là "kẻ trộm cướp” và cảnh báo chúng rằng, đối với kẻ làm trái quy luật "đạo", "ta sẽ bắt họ, giết họ" thì thử hỏi, đời nào ông lại chịu "cười khẩy" mà bỏ qua cho những "thế lực lớn dễ động trời động đất trong thiên hạ"? Ấy là chưa kể chính Lão tử từng làm quan, con cháu, chắt, chút Lão tử đều làm quan to. Khi Khổng tử hỏi Lão tử về "Lễ" ông trả lời: "Người quân tử khi gặp thời thì xe ngựa nghênh ngang, không gặp thời như cỏ bồng xoay chuyển ..."(6). Rõ ràng là Lão tử không hề có tư tưởng coi thường quan trường, coi khinh thế sự khi bàn về "đạo" với Khổng tử. Lão tử đích thực là con người luôn hành động, đấu tranh, nhưng là hành động và đấu tranh theo "đạo", theo hai chữ "vô vi" (không làm trái ngược với đạo). Bản thân tác phẩm "Đạo đức kinh" vĩ đại chính là việc làm vô cùng tích cực với đời của ông. Mong rằng có dịp được bàn thêm về vấn đề này.
Bài này đã đăng trên Tạp chí Xứ Thanh số 37 (1998)
15-7-1998
H.T.C
(1). Xem Vân Đài Loại Ngữ - Lê Quý Đôn - NXB Văn Hoá - 1962 Chương V - Văn nghệ - tr.240.
(2). Xem Luận Ngữ - dịch giả Đoàn Trung Còn - NXB Thuận Hoá Huế - 1996 tr.17.
(3). Xem Đường thi tuyển dịch - tập 1. Lê Nguyễn Lưu - NXB Thuận Hoá - 1997 và Thơ Đường tập 1- NXB Văn học Hà Nội 1987.
(4). Hai chữ "vô vi" cũng được Khổng tử dùng với nghĩa là: Không được làm trái ngược (xin xem lại Luận Ngữ chương thứ nhì: Vi chính, tiết thứ 5. tr.17, sách đã dẫn.
(5). Xem Lão tử và Đạo đức kinh - NXB Sự thật Hà Nội - 1963.
(6). Xem Sử ký của Tư Mã Thiên - truyện Lão tử.
Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013
ĐÁNH CHIM VÀNG ANH
![]() |
| Chim vàng anh trống hồng |
Hoàng Tuấn Phổ
Đảo Hòn Mê nhiều vô kể các loài chim : “Chim Hòn Mê, kê chợ Quán”. Giống chim vàng anh không chịu được gió mùa đông bắc. Hễ thời tiết bắt đầu se se lạnh, chúng bay từ Hòn Mê vào đất liền để lên rừng tránh rét. Chúng bay lẻ từng con hoặc từng đôi, từng đàn.
Không phải giống chim quen vượt sóng gió, vàng anh sau chặng đường biển khơi, khi vào đến đất liền, mỏi cánh, muốn dừng bay, tìm cây tạm nghỉ. Với tinh thần cảnh giác cao, vàng anh thường nghỉ đỗ trên những ngọn cây cao, càng cao càng tốt. Nhưng vàng anh không có đủ kinh nghiệm để phân biệt cây thật với cây giả, cây nào an toàn, cây nào nguy hiểm chết người! Khi vàng anh nhận ra dải đất liền là lúc nhìn thấy nhấp nhô bao “trạm” nghỉ ngơi, “trạm” nào cũng thật hấp dẫn: một chú vàng anh hiếu khách sẵn sang đón tiếp!Mỗi “trạm” đón tiếp chim vàng anh di trú, người ta dựng lên một cây tre hoặc luồng rất dài, thẳng, được nối thêm một cây nứa cũng dài, thẳng. Đầu ngọn cây là con chim vàng anh lột làm mồi, với dáng điệu đang đậu, cổ nghển cao, đầu mỏ hướng về phía trước. Người ta cắm những thẻ nhựa to, dài bằng chiếc đũa dưới chân chim mồi. Cố nhiên, một đầu thẻ phải vót nhọn để cắm vào lỗ đã dùi sẵn. Nếu ngọn cây nhỏ, mảnh, người ta cắt những miếng mo cau dày buộc ép vào thân và dùi vào đó những lỗ cắm thẻ. Thẻ nhựa cắm vào ngọn cây tạo thành góc 300 để chim dễ đậu và dễ mắc nhựa. Công việc cắm thẻ đơn giản, song cũng cần sự khéo léo. Cắm thẻ không đủ chặt thì không chịu nổi sức gió. Thẻ cắm quá chặt lại khó rơi khi chim mắc nhựa. Nhựa đánh chim dùng nhựa vang là tốt nhất. Bôi phết nhựa chỉ nên trải đều một lớp không dày không mỏng lên thẻ, trừ lại khoảng ba đốt tay phía chân vót nhọn để tiện cầm, tiện cắm. Nhựa không nên bôi phết dày quá, dính lông chim khó gỡ, ngược lại, mỏng quá chim dễ tuột cánh bay mất. Nhựa vang bảo quản tốt nhất là ngâm trong nước lã. Cho nên nhựa vang thường bị gió làm se, nắng làm khô, sẽ kém dính hoặc không đủ dính. Mỗi lần bôi phết nhựa, chỉ sử dụng trong ngày. Tránh dầu dãi nắng gió, nhựa có thể dùng lâu hơn. Nên hạ cây bẫy, nhổ hết thẻ nhựa, bảo quản trong cái ống bằng luồng hay tre nứa, để giữ cho chất kết dính được lâu bền. Khi lấy thẻ ra sử dụng, phải nhớ kiểm tra, nếu không còn đủ độ dính cần thiết, nên cạo sạch chất bẩn như bụi cát, que vụn, lông chim,... rồi bôi phết lên lớp nhựa mới thật đều như lần trước.
Trên thân cây, cần quấn lưa thưa mấy vòng dây leo để cây được vẻ tự nhiên. Hoặc cũng có thể buộc lên đó lưa thưa một ít cành lá tươi. Khi dây lá, cành lá bị khô, nên thay cái mới để chim khỏi nghi ngờ. Dựng cây mồi vàng anh lên phải tạo thế đứng thẳng, không nghiêng ngả, không cong vẹo. Tìm được cây chủ để tựa vào là tốt nhất. Vì hàng ngày cây mồi phải dựng lên hạ xuống ít nhất vài ba lần để thay nhựa, cất mồi... Người ta chôn hai cái trụ xuống đất, thân trụ đục lỗ có con xỏ xuyên qua, ở bên cạnh gốc cây chủ.
Như vậy, muốn đánh bẫy chim vàng anh phải có đủ các điều kiện: chim trống mồi đẹp, cây mồi dài thẳng, nhựa vang tốt, chỗ dựng cây thích hợp. Một con chim mồi đạt yêu cầu, đảm bảo các tiêu chuẩn: sắc lông vàng ánh lên màu hồng toàn thân, màu lông mịn màng, thế đứng tự nhiên như chim sống. Nó phải đủ sức quyến rũ chim mái, thách thức chim trống. Do đó, việc bảo quản chim mồi, cần chu đáo, tránh mèo vồ, chuột cắn, tránh cả hướng gió thổi ngược,...
Mới sáng tinh mơ, họ hàng chim vàng anh đã cất cánh rời đảo lên đường. Chỉ cần dăm phút, chúng đã tới đất liền. Vì thế, đánh chim vàng anh mọi việc chuẩn bị sẵn sàng từ chiều hôm trước. Rồi cùng thưc dậy với chim vàng anh, ta đem con mồi, thẻ nhựa cắm so le vào cây bẫy và dựng lên một cái là xong. Mùa đánh chim vàng anh vào cuối thu, đầu đông. Thời tiết chớm lạnh, chim bắt đầu về, nhưng còn ít. Khi độ rét tăng lên, chim về nhiều hơn, ngày càng đông đàn. Chim thường bay cao, có những đàn bay rất cao, tít trời xanh. Làng nào cũng có ít nhất dăm bảy cây mồi dựng lên đón chim. Một số làng gần biển, cây bẫy chĩa lên trời tua tủa, như mạng lưới “phòng không” dày đặc. Nhưng chim có đàn dừng lại, có đàn bay thẳng. Cho nên, những làng xa biển, khi động trời mới nghe tiếng sóng ầm ì vọng tới, cũng thi nhau dựng cây mồi đánh bẫy chim vàng anh.
Mặc dù đường hành quân còn xa xôi “ngàn dặm” mới tới nơi trú đông, chim vàng anh vẫn không cưỡng nổi sức cuốn hút của những chú chim mồi có bộ lông lộng lẫy và dáng vẻ oai phong. Các ả mái ngây thơ vẫy cánh sà xuống làm quen hay kết bạn. Trái lại, các chàng trống hiếu thắng lại cảm thấy như bị xúc phạm, lao ngay vào cuộc tranh đấu hơn thua. Có đàn ham mồi tới mức tất cả đều ào tới tranh nhau đậu. Thậm chí, lũ bạn xấu số đã dính nhựa rơi xuống tới tấp, trên cây không còn chỗ đậu, những chàng trống, ả mái may mắn thoát nạn vẫn cố bám lấy con mồi. Tuy nhiên, không hiếm loại chim khôn ngoan chỉ nhẹ nhàng liệng cánh bay quanh chim mồi một vài vòng rồi vút đi không chút lưu luyến.
Chim dính nhựa rơi xuống đất thường hoảng hốt kêu la “Chóe! chóe!”. Nhưng cũng có con gan lỳ, im lặng tìm lối thoát, hoặc rỉa lông gỡ cánh, hoặc lẩn trốn vào chỗ khuất. Nhiều con khi bị tóm cổ, chống trả quyết liệt bằng cái mỏ rất cứng và khá nhọn sắc chuyên dùng bổ quả lấy hạt. Bộ móng vuốt của nó cũng có khả năng gây cho đối phương toạc da chảy máu. Cho nên, hễ dựng cây bẫy lên, phải có người trông nom, theo dõi, để kịp thời bắt chim mắc nhựa, và để xem thẻ nhựa còn nguyên trên ngọn cây hay đã rơi đâu mất. Cũng có trường hợp, hạ cây xuống để cắm thẻ, mấy con chim dại dột còn tiếc rẻ đuổi theo. Vì thế, người ta phải cắm cùng lúc ba, bốn thẻ, hay nhiều hơn; cách cắm thẻ nên so le để chim dễ đậu, và đề phòng chim mắc thẻ này làm rơi cả thẻ khác. Nhưng không thể dựng quá nhiều thẻ, tua tủa dưới chân mồi, khiến chim dễ sợ.
Đối với người đánh chim vàng anh, chim trống quý hơn chim mái. Vì chim vàng anh quý nhất bộ lông đẹp rồi mới đến thịt. Ở Thanh Hóa, chỉ thấy hai thứ chim trống: trống lơ và trống hồng. Trống lơ màu vàng tối, trống hồng sắc vàng đỏ tươi. Nhờ bộ lông rực rỡ đầy hấp dẫn, trống hồng được người ta ham chuộng hơn trống lơ. Và trống hồng càng tăng giá trị bởi trong bầy đàn vàng anh, trống lơ thường chiếm tỷ lệ cao, rất cao. Chim dính nhựa rất khó gỡ, nếu không thật khéo tay, dễ làm hỏng mất bộ lông quý. Những con chim muốn lột làm chim mồi, phải giữ được bộ lông nguyên vẹn. Người ta lấy kim chỉ khâu ngay đôi mắt chim khiến chim hết đường tung phá. Do hiếm chim trống, đây đó người ta cũng dùng cả chim mái làm mồi. Chim mái lông vàng xỉn, bụng màu tro xám, lốm đốm vết đen nâu nhạt, dáng vẻ hiền lành, đôi khi cũng đánh lừa được cả chú trống hồng đẹp mã có phần khờ khạo, dại mái.
Ở chợ vùng ven biển, mùa chim vàng anh di trú, người ta bán hàng lồng chật. Càng ngược lên những làng xóm xa biển, số chim đánh được càng ít dần. Có người cả mùa chim chỉ đánh được vài ba con. Không ít cây bẫy suốt mùa chẳng thấy một “bóng hồng” nào lai vãng. Thế mà ngày nào người ta cũng dựng cây mồi lên. Thấy hàng xóm dựng, mình cũng dựng; và cứ sáng sớm từ lúc tinh mơ đến khi chói chang ánh nắng mặt trời, người ta chốc chốc lại ngửa mặt nhìn lên, mắt mờ, cổ mỏi,... trông chờ vận may!
Vận may nhỏ nhoi ấy có thể không bao giờ đến, người ta vẫn bền bỉ nuôi mãi một niềm hy vọng. Cho nên, bẫy được con chim nào quý con chim đó. Mỗi con chim vàng anh chắc đâu đủ một lạng thịt nạc lẫn xương, chỉ vừa một niêu con cháo, mọi thành viên gia đình cùng thưởng thức chung, của ngon chẳng kể ít nhiều, cốt lấy thơm miệng làm vui.
Mùa đánh chim vàng anh chỉ diễn ra chừng một tháng. Hết mùa, người ta hạ cây, lấy nhựa, cất mồi, để cuối thu năm sau lại đem ra, dựng lên, lại thấp thỏm trong niềm vui đợi chờ... Cả ba thứ mồi, cây, nhựa đều phải được bảo quản tốt. Những thẻ nhựa bỏ vào ống tre, ống luồng, cùng với số nhựa dư thừa, ngâm trong nước lã, bịt vải thật kín, nhựa có thể sống tới mùa sau. Tất nhiên, nhựa cũ không thể bằng nhựa mới, nếu chấm đầu ngón tay vào thấy dính là nhựa chưa chết, còn dùng được. Cây thì giữ cho khỏi nứt, không mục mại. Chim mồi khó bảo quản hơn. Vì chim mồi cũng có lắm kẻ thù. Giống mèo vốn tính thích ăn thịt chim, đôi mắt dẫu nhìn xuyên bóng đêm, vẫn không phân biệt nổi chim giả với chim thật. Chỉ cần một cái vồ của mèo, con chim mồi bị xé tan từng mảnh. Chim mồi cũng là món dễ “chơi” đối với loài chuột đói bụng tìm miếng ăn hay ngứa răng gặm càn. Người ta phải dùng giấy hoặc vải bọc nhiều lớp thật kín, cất giữ thật cẩn thận và thỉnh thoảng lại đem ra phơi nắng để chống ẩm, phòng mọt cho chim lột.
Qua những tháng ngày trú đông tận núi rừng miền tây, sang xuân tiết trời ấm áp, chim vàng anh nhớ quê hương bản quán, trở về đảo xa. Hiếm thấy những đàn chim tíu tít bay về. Một phần do bị đánh bẫy trên chặng đường dài đầy nguy hiểm. Phần khác bởi phần thức ăn khan hiếm, chúng không đủ duy trì sự sống. Chỉ thấy trên bầu trời xanh những cánh vàng anh lẻ bạn chấp chới bay, thấp thoáng hiện lên những đốm nắng hồng tươi tuyệt đẹp. Số lượng vàng anh hầu như không còn đáng kể. Ấy là duyên cớ người ta không mấy khi dựng bẫy đánh chim vàng anh vào mùa xuân. Vậy mà đến cuối thu, vàng anh như có phép thần, lại từ đảo biển xa, từng đàn, từng đàn náo nức đông vui trên đường di trú. Sức sinh sản nhanh chóng của chúng giúp cho một thú vui của người dân quê, mùa nối mùa không dứt.
TỪ HÁN VIỆT, TỪ THUẦN VIỆT CÓ THỂ VÀ KHÔNG THỂ
HOÀNG TUẤN CÔNG
![]() |
| Ông Đồ và học trò xưa |
Trên báo Văn Nghệ (Hội nhà văn Việt Nam) số 22 ngày 31-5-2008, mục “Nói chuyện chữ nghĩa” có bài “Thay từ Hán-Việt bằng từ thuần Việt” của Phan Điển Ánh. Tác giả đưa ra một số trường hợp cho rằng không thể thay thế và có thể thay thế từ Hán-Việt bằng từ thuần Việt. Xin có đôi lời trao đổi:
Từ “cá nhân” Phan Điển Ánh xếp vào những từ “không thể dùng từ nào khác thay thế được” là không đúng. Bởi theo tôi, trong trường hợp cụ thể vẫn có thể thay thế. Ví dụ từ “cá nhân” có thể thay bằng một người/một mình (Câu: Lợi ích cá nhân không thể đặt trên lợi ích tập thể = Lợi ích của một người không thể đặt trên lợi ích của nhiều người, hoặc câu: Cá nhân tôi không thể quyết định = Một mình tôi không thể quyết định, hay câu: Chiếc giường cá nhân = Chiếc giường một (người), v.v…Những từ thay thế từ “cá nhân” đều là từ thuần Việt và có ý nghĩa tương đương, không hề khiên cưỡng.
Với những từ Hán Việt Phan Điển Ánh đề xuất có thể thay thế bằng từ thuần Việt cũng không hợp lý, cho dù tác giả lưu ý “những từ cần thay đi và nhưng từ cần thế vào không hoàn toàn tương đương ở mọi trường hợp”.
Ví dụ:
- Từ “quan sát” không thể thay bằng “xem xét”. Mặc dù khi giải nghĩa từng chữ, quan có nghĩa là xem, sát có nghĩa là xét (như giải thích của Đào Duy Anh trong “Từ điển Hán Việt”). Trong thực tế, từ “quan sát” được hiểu là cách nhìn mang tính đại thể, tổng quát, nhìn từ xa, để thấy được, nắm được tình hình hoạt động hay tình trạng (thường là bề ngoài) của một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong khi từ “xem xét” lại có nghĩa tìm hiểu, xét đoán một cách cặn kẽ, thấu đáo sự việc, bản chất vấn đề nào đó (không đơn thuần là bề ngoài). Ví dụ, ta không thể thay thế từ quan sát trong cụm từ Đài quan sát = Đài xem xét, hoặc Địch quan sát thấy mục tiêu = Địch xem xét thấy mục tiêu. Ngược lại ta không thể viết: Toà xem xét lá đơn kêu oan của bị can = Toà quan sát lá đơn kêu oan của bị can. Như vậy, “quan sát” và “xem xét” không phải là hai từ có nghĩa từ vựng tương đương, không thể hoán đổi vị trí cho nhau trong mọi trường hợp.
-Từ “khiếm thị” không thể thay thế bằng từ “kém mắt” như Phan Điển Ánh khẳng định. Bởi “khiếm” đây có nghĩa là thiếu (trong từ khiếm khuyết), “thị” có nghĩa là sự cảm nhận của con mắt đối với sự vật (trong từ thị giác). Từ “khiếm thị” thường chỉ những người thiếu chức năng thị giác do dị tật bẩm sinh, không có khả năng nhìn thấy. Bởi vậy, trong mọi trường hợp, từ “khiếm thị” không thể thay thế bằng từ “kém mắt”, (hay mắt kém) chỉ có nghĩa thị lực kém hoặc mắt không nhìn thấy rõ. Từ “khiếm thị” có thể thay thế bằng một từ Hán Việt khác, đó là từ mù (chỉ chung những người không có, hoặc không còn khả năng nhìn thấy, do dị tật bẩm sinh, do tai nạn hoặc do tuổi già). Cần lưu ý, người ta có thể gọi người khiếm thị là mù, nhưng không phải người mù nào cũng có thể gọi là khiếm thị.
-Từ “phát biểu” không thể thay thế bằng từ “nói”. Bởi vì, “phát biểu” thường chỉ ý kiến của người nào đó trước một tập thể, hội nghị, buổi toạ đàm hay cuộc họp, nhằm khẳng định, bày tỏ quan điểm chính thức của mình. Trong khi từ “nói” thiên về nghĩa ngôn ngữ giao tiếp thường ngày nói chung. Sẽ là khiên cưỡng nếu thay thế từ “phát biểu” trong câu: Phát biểu ý kiến trước Quốc hội = Nói ý kiến trước Quốc hội.
Ngoài ra, còn rất nhiều từ, cụm từ Phan Điển Ánh đề xuất thay thế bằng từ, cụm từ thuần Việt khác chưa hợp lý. Ví dụ cụm từ “người và phương tiện” không thể thay thế bằng “người và xe”, vì phương tiện không nhất thiết phải hiểu là xe, mà có thể là tàu thuyền, ngư cụ hoạt động trên sông biển. Hoặc cụm từ “người tham gia giao thông” không thể thay thế bằng “người đi đường”, bởi người đi đường có khi không bao hàm ý nghĩa tham gia giao thông, ví dụ người đi đường một mình, đi bộ trên đường vắng vẻ. Trong khi đó, cụm từ người tham gia giao thông được hiểu là đi trên đường có nhiều người và phương tiện giao thông khác, chịu sự ảnh hưởng hoặc tác động qua lại. Hay từ “giải thích” không thể thay bằng “phân bua”, vì phân bua không chỉ có nghĩa giải thích mà còn bao hàm ý thanh minh, phân trần cho một hành động, việc làm hay sự hiểu lầm nào đó. Mặt khác, Phan Điển Ánh “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa” bởi từ “phân bua” không hoàn toàn là từ thuần Việt, nó là sự kết hợp Hán + Việt khá phức tạp, v.v…
Cần thấy rằng, việc thay thế từ Hán Việt bằng từ thuần Việt, hoặc đã được Việt hoá để ngôn ngữ nói và viết hay hơn, phù hợp hơn, dễ hiểu và đại chúng hơn như Bác Hồ từng dạy. Ví dụ thay thế những từ khó hiểu, tạo hiệu quả rõ rệt trong mọi trường hợp như: quầy thu ngân nên thay bằng quầy thu tiền,đáo hạn nên thay bằng đến hạn. Không có lý do gì chúng ta cố tìm từ thuần Việt để thay thế cho từ Hán Việt, ngay cả khi không cần thiết, hoặc khiên cưỡng. Thậm chí thay thế cả những từ đã được Việt hoá như: “cường điệu-thổi phồng, vĩ đại-to lớn, thiếu nhi/nhi đồng-trẻ em/trẻ nhỏ, giải thích-phân bua, chưa chính xác-chưa đúng”, v.v…như cách đề xuất của Phan Điển Ánh. Trong khi đó, những từ thay thế không hay hơn, không ngắn gọn hoặc dễ hiểu hơn, thậm chí trở nên ngô nghê, khó hiểu.
29/06/2008
Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013
BẪY CHIM CUỐC
Hoàng Tuấn Phổ
Chim cuốc(1) còn gọi chim quắc. Cuốc hay quắc đều mô phỏng theo tiếng kêu của loài chim mà thành tên(2). Ở Trung Quốc, nó được gọi bằng những cái tên đẹp: đỗ quyên, đỗ vũ, tử quy,... Người
nông dân xưa đa số thất học không hề biết đó chính là hồn vua Thục đế bên Tàu, chết vì mất nước, hóa thành chim Quốc, ngày đêm thương nhớ nước phát ra tiếng kêu “quốc quốc” nghĩa là “nước nước”! Người Việt, Mường, Thái đều quan niệm chim cuốc là loài chim có hại cho nhà nông, cho nên, nhiều nơi có lệ đầu năm làng mở hội săn chim cuốc với ý nghĩa cầu mong mùa màng không bị chim chóc phá hoại, cũng là nhắc nhở mọi người, mọi nhà chú ý đánh trừ chim cuốc.
nông dân xưa đa số thất học không hề biết đó chính là hồn vua Thục đế bên Tàu, chết vì mất nước, hóa thành chim Quốc, ngày đêm thương nhớ nước phát ra tiếng kêu “quốc quốc” nghĩa là “nước nước”! Người Việt, Mường, Thái đều quan niệm chim cuốc là loài chim có hại cho nhà nông, cho nên, nhiều nơi có lệ đầu năm làng mở hội săn chim cuốc với ý nghĩa cầu mong mùa màng không bị chim chóc phá hoại, cũng là nhắc nhở mọi người, mọi nhà chú ý đánh trừ chim cuốc.
Chim cuốc ưa sống nơi cồn cây bụi cỏ, hoang vắng rậm rạp. Sáng mai và chiều tà, cuốc lặng lẽ như cái bóng, thận trọng từng bước một mò ra khỏi tổ đi kiếm ăn, khi trở về lại lặng lẽ thận trọng lò dò chui vào tổ. Lúc ra ngoài hễ thấy hiện tượng khác lạ đáng nghi, cuốc lủi trốn rất nhanh, thoáng cái mất tăm. Vì thế, thành ngữ có câu “Lủi như cuốc”. Bình thường cuốc sống tựa thầy tu ẩn dật, không nói năng, trò chuyện, chẳng thích quan tâm đến ai, chẳng muốn ai chú ý đến mình. Lúc đi kiếm ăn, màu lông cuốc lẩn vào màu cây cỏ, chốc chốc nó lại giương cao cổ cò lên để nghe ngóng, xem xét động tĩnh.
Đối với loài cuốc, tạo hóa không thật ưu ái: cho nó cái mỏ sắc nhọn, cái cổ dài cò hương, cặp giò cao kều, nhưng bắt nó đôi cánh lại ngắn, yếu. Cho nên, nó không thể bay cao, bay xa như các giống chim khác mà chỉ bay thấp tà tà, từng đoạn ngắn tựa con chim nhỏ mới học chuyền. Nó lại thua các loài chim ở chỗ không hề biết đậu cành cây, dẫu là cành thấp. Tôi chưa từng thấy cuốc đậu cành cây bao giờ, nó không biết đậu hay không thích đậu?
Tuy sống lặng lẽ, bí mật, cảnh giác cao, cuộc đời cuốc chẳng dám chắc an toàn. Năm nào cũng vậy, bắt đầu cuối xuân chuyển sang hè, cuốc như hóa thành loài chim trời phạt: kêu ra rả suốt ngày, văng vẳng cả đêm, chẳng khác “lậy ông tôi ở bụi này!” Nhất là lúc canh khuya, thanh vắng tiếng cuốc kêu nghe thật ai oán não nùng, có con kêu đến khản cổ, lạc giọng, người ta bảo vì nó thất tình, không ăn không ngủ, kêu đến kiệt sức, lăn ra chết! Đó là mùa yêu đương của cuốc. Khao khát tình yêu cuốc quên mọi nguy hiểm. Đôi lúc quá say đắm chữ tình đến mức mê mẩn tâm thần, cuốc không kêu “cuốc cuốc” mà gào lên “Cu loa! Cu loa!...” như một kẻ điên! Cuốc tưởng như trong thế giới muôn giống vạn loài này chỉ tồn tại một mình chàng cuốc. Do tiếng cuốc kêu ban đêm, người ta biết chắc chắn nơi cuốc xây dựng tổ ấm, nhưng bụi cây quá rậm mà cuốc lại có tài lẩn nhanh nên không dễ đánh cuốc.
Nếu đánh rắn phải dụ rắn ra khỏi hang thì bắt cuốc thì phải lừa cuốc ra khỏi tổ. Lợi dụng điểm yếu của cuốc là bay thấp và ngắn, mùa gieo mạ, cuốc mò ra ăn mạ, người ta đuổi cuốc chạy về phía đồng trống. Chỉ cần hai người đón hai đầu, cuốc bay được vài đoạn, mỏi cánh dừng lại, khó tránh khỏi bị tóm cổ.
Nhà nông ghét cuốc không phải tiếng kêu của nó làm người ta “điếc tai” hoặc gợi lên cảm giác buồn buồn mà chính bởi cuốc hay ăn mạ, “của giống của má”. Những hạt thóc giống ngâm nảy mầm đem ra ruộng vãi rất hấp dẫn đối với cuốc. Cuốc ăn không nhiều, nhưng mỗi ngày tiệc tùng mấy bữa, tích tiểu thành đại; khi mạ lên xanh lại bị cuốc tìm thức ăn dẫm nát. Ruộng mạ vãi gần bờ cây bụi rậm càng dễ bị cuốc phá hại; suốt ngày ra ra, vào vào, cuốc “cậy gần nhà”, thoáng cái mất tăm. Người ta không thể “tay không bắt cuốc” mà phải đánh cuốc bằng bẫy.
Con cuốc thì nhỏ bằng nắm tay thôi, nhưng cái bẫy càng to rộng càng tốt. Cuốc vốn nhát gan, nếu bẫy nhỏ hẹp, dù đói meo nó cũng e sợ, không dám liều mạng chui vào.
Bẫy cuốc đáy phẳng, thành và mái uốn khum khum hình vòm cuốn, đầu này bịt kín, đầu kia mở cửa. Cánh cửa khi mở nằm ép xuống đất thành mặt phẳng nối liền với đáy. Bề dài bẫy chừng 0,8m, chiều cao và rộng khoảng 0,3m. Đan bằng tre hoặc nứa. Nan nhỏ, mỏng để giữ độ thưa, thoáng. Nhưng lỗ đan chỉ đút vừa quả trứng gà hoặc trứng vịt. Lỗ to hơn dễ bị cuốc chui qua. Một cái cần bằng tre cắm giữa bẫy, đầu ngọn cần buộc sợi dây vít cong xuống cửa.
Cuốc là giống chim ăn hạt và côn trùng. Vì cổ họng nhỏ, nó thích loại hạt mềm. Người ta phải ngâm thóc nảy mầm như mạ, bỏ vào mảnh lá chuối để giữa bẫy. Đặt bẫy ở nơi cuốc hay qua lại kiếm mồi hoặc ngay chỗ cửa ngõ cuốc thường ra vào. Chung quanh cắm lơ thơ vài cành lá tươi cho có vẻ tự nhiên. Cuốc từ trong bụi rậm lò dò mò ra, thong thả, nhè nhẹ, từng bước êm ru, không hề làm đau một cái lá cỏ. Cuốc ngẩng cao đầu, cổ cò hương uốn cong mềm mại, hết rụt xuống lại vươn lên, đôi mắt mở to nghiêng bên này, ngó bên kia. Phát hiện thấy mồi ngon, cuốc lượn một vòng quanh bẫy thăm dò. Có một lối rộng mở dẫn tới bữa tiệc ngon lành. Cuốc dò dẫm tiến đến bên cửa rồi dừng lại nghe ngóng. Chung quanh vẫn yên tĩnh quá. Mà mâm cỗ kia lại vô cùng hấp dẫn. Cuốc quan sát trước sau một lần nữa rồi đánh bạo bước vào. Cái chân cao kều với những ngón đen đủi dài ngoẵng của nó theo thói quen chụm lại và đưa lên cao. Thế mà vẫn vướng vào cái gì đó. Thì ra một sợi dây chăng ngang. Cái này nó vẫn thường gặp trong bụi cây cồn cỏ. Thông thường nó cứ bước bừa đi là qua thôi. Nhưng nơi đây không phải chốn quen thuộc, nó không thể không thận trọng. Nó chưa kịp tính kế tiến lui thế nào đã nghe “phựt” một tiếng cái chốt bẫy bật ra, tiếp theo cái cần bẫy vút lên, và cái cửa bẫy tức thì đóng sập ngay sau lưng nó.
Cuốc giật mình nhảy tung lên. Khi đã bình tâm trở lại nó chạy quanh trong bẫy tìm đường ra. Nhưng vô ích.
Cuốc mỏ đen, chân cũng đen, hay dẫm lội, nom gầy guộc, bẩn thỉu, rất xấu cho nên thành ngữ nói “Đen như chân cuốc”. Nhưng cuốc có bộ lông đẹp, lưng nâu, bụng trắng, đít đỏ, diện như chàng công tử bột. Có thể nuôi cuốc làm chim cảnh. Tuy nhiên, cuốc chỉ đẹp khi ở thiên nhiên. Thịt chim cuốc không ngon, dai dai, khen khét, nhà nông ghét nó vì nó ăn mạ, cần tiêu diệt trước kỳ gieo vãi mạ lúa mùa. Hội săn chim cuốc mùa xuân là tục lệ bắt nguồn từ sản xuất nông nghiệp, lấy vụ mười làm chính. Ít ai biết chim cuốc còn ăn côn trùng phá hại mùa màng.
Ngày nay, đồng ruộng đâu đâu cũng được quy hoạch, cũng được cải tạo, không còn những cồn cây, bụi cỏ hoang rậm. Loài cuốc hết nơi cư trú, bỏ đi đâu không rõ. Một vài đôi đánh bạo vào làng, trú ngụ trong những bờ tre vắng vẻ sau vườn nhà. Nếu người không đánh đuổi chúng, chúng sẵn lòng thân thiện, mặc dù vẫn tỏ vẻ cảnh giác. Dẫu mang thân ở đỗ nằm nhà, mùa xuân cuốc vẫn dóng dả “cuốc cuốc” gọi bạn tình. Trứng cuốc lớn hơn trứng chim cút, màu xanh lơ, lấm tấm chấm hoa nâu, vì thế loại quả chuối tiêu chín kỹ lấm tấm chấm hoa nâu, gọi là “chuối trứng cuốc”. Mỗi ổ trứng cuốc chừng 6 - 8 quả. Cũng như gà, cuốc non nở ra biết đứng ngay trên những cái chân cao kều, bé tý xíu, toàn thân đều một màu xám xám, đen đen. Cuốc con theo mẹ đi kiếm ăn. Hễ nghe mẹ báo động bằng tín hiệu riêng nhà cuốc, chúng liền biến nhanh vào bụi rậm. Số lượng cuốc con sống được đến khi trưởng thành rất ít. Bởi vậy, họ hàng nhà cuốc phát triển rất chậm.
Bây giờ làng thôn, đồng nội hầu như không còn bóng cuốc, tiếng cuốc. Không phải do cuốc bị nhà nông tiêu diệt. Cuốc chết vì bị ngộ độc thuốc trừ sâu hoặc bị triệt sản vì thuốc hóa chất nguy hại.
(1) Cũng có người viết “quốc”
(2) Cũng như chim “da da”, chim “cò”, chim “vạc”, v.v... tên gọi đều phỏng theo tiếng kêu của chúng.
ĐÁNH BẪY CÒ BỢ
Hoàng Tuấn Phổ
![]() |
| Cò bợ Ảnh: Wikipedia |
Nếu đứng cạnh bên nhau, cò bợ với cò trắng khác nào cú với tiên. Cò trắng toàn màu trắng muốt, một hình ảnh đẹp tuyệt của đồng quê, trong khi cò bợ với bộ xống áo lem nhem những nét vẽ vụng về của tạo hóa. Nhưng thịt cò bợ ngon hơn cò trắng. Vì thế ở nông thôn có nghề đánh bẫy cò bợ.
Tại những nơi cư trú của cò trắng, ít thấy cò bợ ở chen lẫn. Có chăng, dăm ba con cò bợ ngủ trọ trong thời gian lang thang phiêu bạt kiếm sống.
Quê hương của cò bợ tại miền rừng cây ven biển hoặc tận hải đảo xa xôi, những nơi sẵn mồi tôm cá. Tháng 7 tháng 8 âm lịch, mùa nước lớn ngập bờ, khó bề kiếm ăn, cò bợ mới tìm về vùng đồng lúa vụ mười, địa bàn quen thuộc của cò trắng. Cũng như nhiều loại chim khác, cò bợ mỗi khi rời tổ đều theo bầy đàn, dựa vào ưu thế bầy đàn để kiếm sống và bảo vệ cuộc sống. Cho nên, cả năm chỉ có dịp giữa thu là mùa đánh bẫy cò bợ.
Quê hương của cò bợ tại miền rừng cây ven biển hoặc tận hải đảo xa xôi, những nơi sẵn mồi tôm cá. Tháng 7 tháng 8 âm lịch, mùa nước lớn ngập bờ, khó bề kiếm ăn, cò bợ mới tìm về vùng đồng lúa vụ mười, địa bàn quen thuộc của cò trắng. Cũng như nhiều loại chim khác, cò bợ mỗi khi rời tổ đều theo bầy đàn, dựa vào ưu thế bầy đàn để kiếm sống và bảo vệ cuộc sống. Cho nên, cả năm chỉ có dịp giữa thu là mùa đánh bẫy cò bợ.
Nghề đánh bẫy cò bợ, thứ nhất, chọn tìm địa điểm thích hợp. Đó là một đoạn bờ vùng, bờ thửa, hay một đám ruộng cấy lúa sớm mới gặt, hoặc một vũng nước cạn giữa đồng lúa xanh tốt. Thứ hai, phải có chim mồi, ít nhất vài ba con. Cò mồi “thật” nhạy hơn cò mồi “giả”. Nhưng vì không có con mồi thật phải dùng con mồi giả. Con mồi thật dĩ nhiên còn sống, dùng kim chỉ khâu mắt, lấy dây buộc chân vào cọc. Nó vênh cổ, dướn mỏ, ngó bên này, nghiêng bên kia, nhưng chẳng thấy gì đành chịu đứng yên. Mỗi ngày đút tôm tép, cá nhỏ cho nó ăn vài lần, có thể sống được suốt mùa bẫy. Nếu không có chim mồi thật, dùng mồi giả, đẽo gọt bằng gỗ, từ hình dạng đến sơn vẽ màu sắc, đường nét phải giống hệt cò bợ, mới đánh lừa được chúng. Bố trí chim mồi đứng rải trên địa điểm đã chọn, với các tư thế con này đang cắm cúi mò cá, con kia đang nghển cổ lên trời như chờ đón... Khoảng cách giữa các con chừng vài ba bước chân, chung quanh cắm thẻ nhựa. Thẻ nhựa vót bằng tre, to như chiếc đũa, dài từ hai đến ba gang tay, phần trên độ một gang phết nhựa, phần dưới, chân vót nhọn để cắm xuống bờ hoặc ruộng. Thẻ nhựa cắm xiên xiên, không chặt, không lỏng và cũng không cần ngay hàng thẳng lối.
Nòi nhà cò nói chung rất cần cù lao động. Chúng thức dậy lúc trời còn mờ đất, từ nơi ngủ tạm, bay đi kiếm mồi. Do đó, người đánh cò phải chuẩn bị sẵn mọi thứ trong buổi tối để gà gáy sáng ra đồng “bài binh bố trận”. Đàn cò từng đôi cánh vỗ nhẹ vào không trung, thong dong như dạo chơi, kỳ thực chúng đang chăm chú quan sát phía dưới đồng lúa, tìm nơi thuận lợi đáp xuống săn mồi. Nhìn từ trên cao, với những cặp mắt tinh tường, chúng dễ dàng nhận ra một toán cò lạ đang bắt tôm cá. Vốn bản tính hẹp hòi ích kỷ của loài cò bợ, con đầu đàn hô lên mấy tiếng “cồ cộ” tức thì cả đàn theo lệnh nhằm phía “đối phương” sà xuống rất nhanh. Chúng hoặc tranh lấy chỗ làm ăn thuận lợi, hoặc đánh kẻ nhanh chân khôn lỏi, hay ít nhất cũng phá đám. Nhưng, những cặp giò dài ngoẵng, chân vừa mới chạm mặt đất, mặt nước, đôi cánh liền bị trúng nhựa, khiến cả đàn giật mình hoảng hốt chạy nhảy điên cuồng.
Đánh cò tốt nhất, chọn được nơi chúng thường lui tới săn mồi đã trở thành quen thuộc. Khi thấy đàn cò khác ranh ma tranh mất xứ đồng của mình, chúng sẽ xông tới, lao xuống như điên.
Dân gian Thanh Hóa có thành ngữ: “lử cò bợ”, xuất phát từ nghề đánh cò bợ. Thấy cò đã mắc nhựa, người đánh bẫy cò chạy như bay, chẳng kể đồng sâu, ruộng cạn, không ngại gò cao, bãi thấp, phải đến kịp thời để bắt cò, càng nhanh cành tốt. Hai bàn tay xòe rộng vơ lấy, nắm lấy cổ cò, ép con nọ vào con kia chật cứng tay mới bỏ vào lồng. Nếu chậm chúng sẽ lủi trốn vào ruộng lúa hoặc tha cả thẻ nhựa bay đi mất. Vì thế, người đánh cò phải khỏe chân mạnh tay, và càng đánh bắt được nhiều cò, thân thể càng mệt nhoài, càng “lử cò bợ”.
Mùa cò bợ là mùa khế chua. Nếu ngoài Bắc quen thịt cò nấu măng thì trong Thanh có món thịt cò nấu khế, mặc dù chợ búa không thiếu gì các loại măng nứa, măng giang, măng vầu, măng luồng, măng củ. Và đó là một đặc sản văn hoá ẩm thực làng quê xứ Thanh.
Rút từ "Văn hóa đánh bắt chim thú tôm cá ở Thanh Hóa"-Hoàng Tuấn Phổ
XÔI NẾP HÀ TRUNG
Hoàng Tuấn Phổ
Hoàng đế Duy Tân (1900-1915) là ông vua yêu nước. Mặc dù bị Pháp theo dõi rất chặt, ông vẫn bí mật liên lạc với hai chí sĩ Trần Cao Vân, Thái Phiên, tán thành tổ chức một cuộc khởi nghĩa lật đổ ách đô hộ. Việc lớn thất bại, vua Duy Tân bị bắt cùng các chiến sĩ ái quốc. Triều đình Huế vâng lệnh chính quyền thực dân xét xử. Dụng ý Hồ Đắc Trung (người Thừa Thiên) muốn gỡ tội cho vua Duy Tân, làm án trình lên, trong đó có câu: “Hà Trung mạch phạn, Ngự lĩnh kê thang, thừa dư chỉ thử phong trần, giai thử bối chi vi nghiệt dã”. Nghĩa là: xôi nếp Hà Trung, cháo gà núi Ngự, nhà vua chưa đủ sung sướng hay sao mà còn
phải dấn thân vào chốn phong trần, chẳng qua do bọn kia gây ra cả!
phải dấn thân vào chốn phong trần, chẳng qua do bọn kia gây ra cả!
Kết cục, món xôi nếp Hà Trung (Thanh Hóa) và cháo gà núi Ngự (Huế) không cứu được vua Duy Tân thoát khỏi tù đày, nhưng riêng xôi nếp Hà Trung đã nổi danh, càng lừng tiếng thơm.
Nếp Hà Trung nổi tiếng chủ yếu nhờ giống nếp cái hoá vàng dưới chân đồi thấp hoặc đất bãi bồi, bên những dòng sông cổ: Tống Giang, Hoạt Giang, Chiếu Bạch… Đặc điểm ruộng đồng vàn không cao, không thấp ; không cao để tiện tưới nước suốt mùa vụ, không thấp để mùa mưa nước to khỏi bị ngập lụt. Nói chung lúa nếp khó tính hơn lúa tẻ. Lúa nếp càng giống quý càng khó tính. Đất trồng không úng không hạn đã đành mà còn phải đất thục (không sét, chua, mặn) và nhiều màu mỡ (lân, đạm, ka li). Những chất bổ dưỡng nuôi cây lúa sinh trưởng, làm đòng, trổ bông, kết hạt, đều chứa sẵn trong đất. Nếu cần bón thêm cũng chỉ là phân bùn phù sa phơi khô tán nhỏ, hoặc phân hữu cơ ủ tơi, ủ mục (nếu không cúng lễ).
Đồng đất Hà Trung xưa cấy nhiều giống lúa nếp: nếp trắng, nếp con, nếp cái, nếp hạt cau, nếp cẩm, nếp quạ, nếp thia thia… ngon nhất là nếp hương, nếp hoa vàng, và trong hai thứ này, nếp hoa vàng đứng vào hàng bậc nhất. Lúa nếp hoa vàng khi chín phủ một màu vàng ươm khắp ruộng, từ xa đã cảm nhận được mùi hương thoang thoảng trong làn gió nhẹ. Khi đứng bên bờ, hương lúa chín dậy lên mùi thơm ngát. Từng hạt lúa mập tròn, vỏ sắc vàng tơ, phủ lên một lớp lông li ti, óng ánh màu trắng thu muộn chen nhau, đè nhau xếp mái, tạo thành bông đuôi trâu uốn hình lưỡi câu nặng trĩu, lúa có tốt, gạo mới ngọn. Tiêu chuẩn đầu tiên của xôi nếp hoa vàng là từng bông lúa phải tốt, mập, giống hình đuôi trâu.
Lúa nếp hoa vàng là lúa nếp mùa chín nhanh, đều, bởi nhờ đêm sương ngày nắng, khí trời hanh heo. Đối với các loại giống lúa cấy muộn, thiếu nước, đẻ rài, trổ nghẹn, kém nắng lúc phơi màu, ngậm màu, khiến bông lúa nhiều tầng, bông to, bông nhỏ, chín trước, chín sau, bà con nông dân không gặt mà dùng lưỡi hái cắt những bông lúa chín trước, cũng là những bông to nhất, tốt nhất. Phân loại nếp ngon, kém ngon tiến hành ngay tại ruộng, đem về để riêng kẻo “thịt lành đổ thịt thiu”.
Lúa lắt (cắt bằng lưỡi hái cũng như lúa gặt về, để riêng một chỗ, ủ chừng một ngày đêm, mới đem ra vò bằng chân hoặc đập bằng chày tay, vì lúa nếp rất dai. Vò lúa nếp giống càng phải cẩn thận hơn. Người ta “suốt” bằng cách nắm một ‘chét tay” lúa bên tay trái, toẽ ra từng bông trên cái nia, tay phải cầm bát sành tuốt đi tuốt lại. Đến phần cuối có hạt lửng, hạt lép hạt gầy, hạt xanh thì trừ lại để vò riêng. Làm giống là phải chọn hạt tốt nhất, có “tốt giống mới tốt má, tốt mạ mới tốt lúa”. Giống nếp này được coi trọng hơn mọi thứ giống, để có gạo ngon, gạo quý đồ xôi cúng thần phật, làm giỗ ông bà.
Vò lúa nếp hoa vàng xong, đổ thóc vào nống, tãi mỏng đều, phơi nắng, không được ủ thóc tươi lại, bị “hấp hơi” sau làm gạo, hạt gẫy nát. Thóc nếp phải phơi nhiều nắng, (gấp đôi thóc tẻ), thóc nếp hoa vàng càng nhiều nắng vì vỏ hạt dày. Thóc nếp hoa vàng “được nắng”, “tốt nắng” (chăm cào trở), bốc nắm thóc lên, hạt rơi xào xào, cắn chắt thử, giòn mà không gẫy là không già nắng, bởi già nắng thì gạo xay cũng bì gẫy, phải để lâu lâu hạt thóc mới đằm lại. Nắng yếu tất phải phơi lâu, cũng ảnh hưởng tới chất lượng gạo. Cho nên dân gian có câu “Bụt tiếc xôi, trời tiếc nắng”, trời không cho nắng to, nắng tốt, Bụt lấy đâu xôi ngon !
Thóc nếp hoa vàng tốt nắng, vừa nắng, đủ nắng, khi làm gạo cối xay phải chín, trăm hạt thóc tróc vỏ đều cả trăm và không gẫy, không nát. Không được dùng cối xay “sống”, hạt gạo chen hạt thóc lỗ mỗ, hạt gẫy lẫn hạt nát linh tinh, phí mất thúng thóc quý. Giã gạo chày bàn, một người giã, một người dùng tay khoả, gạo được trộn đều và không bị toé. Gạo giã kỹ, cám nát mịn, sờ vào thấy mát lòng bàn tay, thổi thấy gạo trắng bong là được. Gạo giã nhất thiết phải trắng đều, lượng tấm mẳn ít. Đôi khi người ta còn bỏ vào cối một ít năm lá mây để hạt gạo trắng ngần, thổi xôi trắng óng một màu. Hạt gạo trắng cũng là một tiêu chuẩn quan trọng. Gạo kém trắng, chất lượng kém ngon, độ dẻo của xôi sẽ bị ảnh hưởng. Để xôi thật ngon, người cẩn thận còn tãi ra mâm đồng từng ít một, nhặt hết hạt sạn, hạt sâu, hạt đen, hạt bạc bụng, hạt tẻ lẫn lộn, hạt thoái hoá, cùng hạt sứt, hạt gẫy, hạt nát… làm sao cho trăm hạt gạo đều như cả trăm !
Khi đem gạo thổi xôi, tuỳ độ già nắng, ngâm nước từ nửa đêm đến một đêm, hoặc nửa buổi đến một buổi, vò kỹ, đãi sạch, vớt ra đợi ráo kiệt nước, xóc đều chút muối trắng. Sau đó bỏ vào hông nhè nhẹ từng vốc một, lúc nồi đáy vừa sôi. Nước nồi đáy phải vừa đủ để hơi nóng cũng vừa đủ. Ngọn lửa bếp không cao, không thấp để nước khỏi trào. Vung đậy lót bằng mảnh lá chuối hột là tốt nhất. Nên dùng đũa con chọc xuống lỗ đáy nồi hông để hơi nóng được thông đều khắp.
Bắc nồi hông xôi khỏi bếp, mở vung ra, hơi nóng phả mạnh cái “xào”, mùi thơm toả bay ngào ngạt. Không nghe cái “xào” là ít hơi, coi chừng xôi sống. Đơm xôi vào đĩa, đặt lên bàn thờ, sau tuần hương xạ, mùi hương quyện lẫn mùi xôi, xôi nếp hoa vàng càng có mùi thơm đặc biệt. Xôi nếp Hà Trung có độ dẻo bền lâu, để nguội qua đêm vẫn còn dẻo. Vì thế, xôi này đóng oản rất tốt.
Oản chuối cúng Phật, xôi gà cúng thần là những lễ vật cổ truyền, từ lâu đời đã trở thành những công thức khó thay đổi. Oản và chuối thấm quyện mùi hương hoa; ăn oản với chuối, ăn cả mùi thơm xôi nếp lẫn mùi thơm hương hoa, cùng vị ngon xôi nếp, vị ngọt chuối tiêu…Làng quê nào có chùa chiền cũng có oản chuối. Nhưng oản chuối Hà Trung cộng với chuối tiêu miền đồi đất đỏ Hà Trung là sự kết hợp độc đáo, cho người ta thứ hương và vị khó quên. Cũng tương tự như vậy, xôi nếp cái hoa vàng Hà Trung phải đi đôi với gà trống chợ Phủ Hà Trung. Đất đồi bãi Hà Trung rất thuận lợi cho chăn nuôi gia cầm, gia súc. Bên cạnh ngô, khoai sắn, gà còn được ăn thêm mồi tạp. Gà trống tơ hoặc gà trống không mái phàm ăn, đủ chất nên chất lượng thịt béo và chắc, thơm ngon. Cỗ xôi gà nâng lên bàn thờ, xôi gà trắng bong, gà vàng ươm. Con gà nghển cổ, há mỏ như nuốt lấy làn khói hương nghi ngút.
Nhiều ngôi chùa ở Hà Trung, Tết Đoan Ngọ (5-5 âm lịch) có tục cúng xôi gấc. Xôi gấc khiến nếp Hà Trung thêm phần hấp dẫn, màu sắc và hương vị. Người xưa giải thích: Tết Đoạn Ngọ được ăn xôi gấc rất tốt, để lấy “khước” vì màu đỏ mang lại nhiều may mắn, và xôi gấc tác dụng “giết sâu bọ” !
Nếp tốt, nếp quý dĩ nhiên phải làm lễ, làm giỗ. Ngày mùa, bà con Hà Trung dùng nếp hoa vàng loại hai, loại ba, nấu cơm nếp ăn lót dạ, thưởng thức hương vị đầu mùa, được coi là cái thú của người làm ruộng. Món cơm nếp ấy, nếu “xéo” thêm mấy củ hành tươi nhổ ngoài vườn được đảo qua với mỡ lợn thì thơm dậy khắp xóm và “chồng ăn vợ khen, đứa ở thắp đèn cũng thấy thơm lây” !
Có lẽ nên nói thêm một điều tưởng như không cần thiết. Với xôi nếp Hà Trung, dù là nếp cái hoa vàng dẻo quẹo, khi ăn xôi phải nắm. Càng nắm những hạt xôi dẻo càng luyện vào nhau. Vừa ăn vừa nắm. Thế mới đã ngon càng ngon hơn./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





